Trong phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc ngày 25/5/2026 với Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh khoa học cơ bản phải được đặt ở vị trí chiến lược, gắn trực tiếp với mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia trong thế kỷ XXI. Theo tinh thần chỉ đạo đó, khoa học cơ bản không còn chỉ được nhìn nhận như hoạt động học thuật chuyên sâu trong các viện nghiên cứu, trường đại học hay phòng thí nghiệm, mà là nền móng tri thức quốc gia, cơ sở hình thành công nghệ lõi, nguồn nhân lực tinh hoa, năng lực dự báo chiến lược và hoạch định chính sách dài hạn. Từ cách đặt vấn đề ấy, có thể thấy đầu tư cho khoa học cơ bản không phải là đầu tư xa xỉ hay thuần túy hàn lâm, mà là đầu tư cho chiều sâu phát triển, năng lực tự chủ và sức cạnh tranh lâu dài của đất nước.
1. Khoa học cơ bản và nền móng tri thức của quốc gia
Lịch sử khoa học, công nghệ thế giới đã chứng minh, nhiều thành tựu ứng dụng làm thay đổi nhân loại đều bắt đầu từ những tìm tòi rất cơ bản. Isaac Newton (1643–1727) khi nghiên cứu các định luật chuyển động và hấp dẫn không nhằm chế tạo máy bay hay tên lửa, nhưng cơ học cổ điển sau đó trở thành nền tảng của kỹ thuật, cơ khí, hàng không và vũ trụ. Tương tự, Albert Einstein (1879–1955) khi xây dựng thuyết tương đối trước hết đã mở ra một cuộc cách mạng trong nhận thức vật lý về không gian, thời gian và năng lượng để về sau, những tri thức ấy góp phần đặt nền tảng cho công nghệ hạt nhân, định vị vệ tinh và nhiều ứng dụng kỹ thuật phức tạp.
Toán học thuần túy từng có lúc tưởng như rất xa đời sống, nhưng ngày nay lại nằm ở trung tâm của trí tuệ nhân tạo, mật mã học, khoa học dữ liệu, tài chính hiện đại và an ninh mạng. Mặt khác, hóa học cơ bản tạo nền cho vật liệu mới, dược phẩm, năng lượng và công nghệ môi trường; sinh học cơ bản mở đường cho y sinh, vaccine, công nghệ gen và nông nghiệp hiện đại.
Ngay cả trong khoa học xã hội và nhân văn, sử học, dân tộc học giúp một quốc gia hiểu đúng quá khứ, bản sắc và những bài học phát triển của mình. Triết học, xã hội học, văn hóa học, nghệ thuật học không chỉ giúp nhận diện những biến đổi sâu sắc của đời sống xã hội, mà còn góp phần gìn giữ bản sắc, nuôi dưỡng hệ giá trị, phát triển công nghiệp văn hóa, giáo dục, truyền thông, ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia.
Từ góc nhìn phát triển, khoa học cơ bản chính là phần “rễ” của cây tri thức quốc gia. Cái rễ ấy phải đủ sâu, đủ bền, đủ lực để đảm bảo môi trường thuận lợi nuôi dưỡng những “thân”, “cành”, “hoa”, “lá” và “quả” của sự phát triển. Nếu khoa học cơ bản còn yếu, chúng ta vẫn có thể mua thiết bị, nhập khẩu công nghệ, thuê chuyên gia, tham gia vào một số chuỗi gia công, nhưng rất khó kiến tạo năng lực tự chủ khoa học và công nghệ. Đó chính là vai trò không thể thay thế của khoa học cơ bản và cũng là lý do mọi chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo luôn coi đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư chiến lược, đầu tư lâu dài, kiến tạo nền tảng bứt phá và tăng trưởng của quốc gia.
Trong mô hình phát triển mới của Việt Nam, khi đất nước không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hay tiếp nhận công nghệ bên ngoài, khoa học cơ bản phải trở thành một năng lực nội sinh có ý nghĩa chiến lược quốc gia. Đây cũng là tinh thần quan trọng của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị: phát triển nhanh và bền vững phải dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu, văn hóa và con người. Trong cấu trúc phát triển ấy, khoa học cơ bản cung cấp tri thức nền cho công nghệ chiến lược, đào tạo nhân lực trình độ cao, tạo luận cứ cho hoạch định chính sách, nâng cao năng lực dự báo, đồng thời góp phần xây dựng hệ giá trị, sức mạnh mềm và bản lĩnh phát triển của dân tộc.
2. Con người là trung tâm của phát triển khoa học cơ bản
Trong kỷ nguyên mới, công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể tự nó tạo ra phát triển nếu thiếu con người có năng lực làm chủ, vận hành, cải tiến và sáng tạo công nghệ. Một quốc gia có thể mua máy móc, nhập khẩu thiết bị, tiếp nhận dây chuyền công nghệ, nhưng không thể đi đến tự chủ nếu thiếu đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia, nhà quản trị công nghệ và lực lượng nghiên cứu trẻ đủ năng lực tiếp nhận, giải mã, cải tiến và phát triển tiếp những công nghệ đó.
Nói cách khác, nếu không đặt nhân lực khoa học và công nghệ vào vị trí trung tâm, chúng ta rất dễ rơi vào tình trạng “thừa máy móc, thiếu trí tuệ”, “thừa công nghệ, thiếu nhân lực”, có thiết bị nhưng thiếu người khai thác hiệu quả, có cơ hội tham gia chuỗi giá trị mới nhưng thiếu đội ngũ đủ sức tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Vì vậy, khi nhấn mạnh “muốn có nền khoa học mạnh, trước hết phải có đội ngũ nhà khoa học mạnh”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chạm đến một trong những điểm nghẽn căn bản nhất của phát triển khoa học hiện nay.
Điểm nghẽn lớn nhất là chúng ta chưa hình thành đầy đủ một hệ sinh thái phát triển nhân tài khoa học theo đúng nghĩa hiện đại. Bài học từ các quốc gia phát triển cho thấy nhân tài cần một chuỗi đầu tư và phát triển liên tục: phát hiện sớm, đào tạo nghiêm túc, được dẫn dắt bởi các nhà khoa học lớn, được thử thách trong môi trường học thuật cạnh tranh lành mạnh, được tạo cơ chế làm việc, trao quyền nghiên cứu độc lập, sáng tạo, được đánh giá công bằng và được bảo vệ trước rủi ro.
Thực tế cho thấy, điểm nghẽn trong phát triển nhân tài khoa học xuất hiện ở nhiều khâu: phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ. Phát hiện nhân tài đã khó, nhưng nếu sau đó chưa có cơ chế tuyển dụng, hỗ trợ, bồi dưỡng, tạo điều kiện phát triển và sử dụng đúng, thì nguồn lực ấy rất dễ bị lãng phí, không phát huy được đầy đủ năng lực và sức cống hiến. Đào tạo nhân lực khoa học tuy đã được quan tâm hơn, nhưng vẫn chưa thật sát với yêu cầu phát triển nhân tài, khi còn nặng chương trình, bằng cấp và truyền thụ kiến thức trong khi nhân tài khoa học cần được rèn luyện năng lực đặt vấn đề, phản biện, thiết kế nghiên cứu, làm việc liên ngành, công bố quốc tế và chuyển hóa tri thức thành giải pháp cho những bài toán lớn của đất nước.
Cơ chế sử dụng người tài trong các đơn vị công lập vẫn còn nặng tính hành chính. Nhân tài khoa học cần cơ chế phù hợp, sự tin cậy, điều kiện làm việc và không gian sáng tạo. Nếu vẫn áp dụng máy móc các quy định chung về công tác cán bộ, viên chức, quy trình, thủ tục, định mức, thang bảng lương và cách đánh giá hành chính, thì rất khó tạo ra môi trường đủ rộng để nhân tài phát huy năng lực và cống hiến lâu dài.
Về đãi ngộ, chính sách hiện nay vẫn chưa thật sự tạo được sự công bằng và động lực đủ mạnh cho nhà khoa học trẻ. Nếu không có thu nhập tương xứng, không nhìn thấy tương lai nghề nghiệp rõ ràng, không có cơ hội chủ trì nhiệm vụ, không được bảo vệ khi theo đuổi hướng nghiên cứu mới, nhà khoa học trẻ rất khó toàn tâm toàn ý với khoa học. Đây là điều kiện then chốt để hạn chế chảy máu chất xám và giữ chân nhân tài trong các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là khu vực công.
3. Hướng tới xây dựng, hoàn thiện hệ sinh thái nhân tài khoa học
Một điểm rất đáng chú ý trong phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu xây dựng Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản. Đây không chỉ là một chương trình hỗ trợ nhân lực theo nghĩa thông thường, mà cần được hiểu như một thiết kế chính sách chiến lược nhằm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và bảo vệ nhân tài khoa học trong dài hạn. Muốn có nền khoa học mạnh, trước hết phải có đội ngũ nhà khoa học mạnh; muốn có đội ngũ nhà khoa học mạnh, phải có một hệ sinh thái đủ tốt để người tài được phát hiện, được nuôi dưỡng, được giao việc lớn và được phát huy năng lực sáng tạo.
Trên thế giới hiện nay, cạnh tranh nhân tài đã trở thành một hình thức cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia. Vì vậy, muốn giữ chân và thu hút người giỏi, không chỉ tăng thu nhập, mà quan trọng hơn là phải tạo ra môi trường để người giỏi được làm khoa học đúng nghĩa. Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản, nếu được xây dựng, cần đi theo tinh thần đó: không chỉ hỗ trợ cá nhân nhà khoa học, mà phải kiến tạo môi trường, cơ chế và điều kiện để tài năng khoa học phát triển bền vững.
Trước hết, phải xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm xuất sắc và trường phái khoa học trong những lĩnh vực then chốt. Không nên đầu tư dàn đều, chia nhỏ nguồn lực cho quá nhiều hướng nghiên cứu phân tán, mà cần ưu tiên các lĩnh vực có khả năng đóng góp trực tiếp cho phát triển như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, y sinh, vật liệu mới, năng lượng mới, nông nghiệp công nghệ cao, an ninh nguồn nước, đô thị thông minh.
Bên cạnh đó, cần quan tâm đúng mức đến khoa học xã hội và nhân văn như một nền tảng quan trọng của phát triển. Khoa học xã hội và nhân văn giúp nhận diện những vấn đề như biến đổi dân số, già hóa dân số, di cư, lao động việc làm, biến đổi gia đình, bất bình đẳng, giáo dục, thanh niên, văn hóa số, đạo đức công nghệ, niềm tin xã hội, quản trị địa phương, chính sách công và sức mạnh mềm quốc gia. Đây là những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển, nhưng hiệu quả nghiên cứu thường có độ trễ, không thể hiện ngay bằng sản phẩm thương mại. Vì vậy, với khoa học xã hội và nhân văn, cần có chính sách ưu tiên, sự kiên nhẫn đầu tư, kiên nhẫn chờ đợi, đồng thời đánh giá bằng tác động các sản phẩm khoa học bằng chính sách, tác động xã hội, chất lượng dữ liệu, năng lực dự báo và đóng góp vào quản trị quốc gia.
Cần tạo thêm những “đường băng” có tính đột phá cho nhà khoa học trẻ “cất cánh”. Nhà khoa học trẻ cần được tin tưởng, giao nhiệm vụ, có quỹ hỗ trợ nghiên cứu, có cơ hội chủ trì các nghiên cứu độc lập, có quyền tiếp cận dữ liệu và phòng thí nghiệm, có cơ hội trao đổi quốc tế, có cơ chế được chấp nhận thất bại trong giới hạn khoa học mà không bị triệt tiêu cơ hội nghề nghiệp. Không thể yêu cầu người trẻ sáng tạo nếu họ chỉ được giao việc phụ trợ, hoặc phải dành phần lớn thời gian cho thủ tục hành chính.
Từ tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đổi mới thể chế, cơ chế vận hành nghiên cứu khoa học cơ bản, có thể thấy yêu cầu cấp thiết hiện nay là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo. Nhiều nhà khoa học vẫn mất quá nhiều thời gian cho hồ sơ, chứng từ, thủ tục, dự toán, quyết toán, trong khi điều cần quản lý chặt nhất phải là chất lượng khoa học, tính trung thực, giá trị tri thức và tác động của nghiên cứu. Vì vậy, cần chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý theo thủ tục sang đánh giá theo kết quả và tác động, từ kiểm soát chi li đầu vào sang kiểm soát chất lượng đầu ra, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, phải đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý khoa học để giảm thủ tục, giảm thời gian hành chính, tạo thêm không gian cho nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu và sáng tạo.
Cùng với đó, cần xây dựng môi trường học thuật tự do nhưng có trách nhiệm. Tự do học thuật không có nghĩa là tùy tiện, mà là nhà khoa học được quyền đặt câu hỏi, được quyền tranh luận, được quyền phản biện, được quyền theo đuổi giả thuyết mới, được quyền công bố kết quả trung thực trên cơ sở phương pháp khoa học. Nhưng đi cùng với tự do đó phải là trách nhiệm giải trình, liêm chính khoa học, chống bệnh thành tích, chống công bố hình thức. Một nền khoa học mạnh phải là nền khoa học trung thực và dựa trên hiệu quả.
Như vậy, Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản cần trở thành một thiết kế chính sách đủ lớn, đủ dài hạn và đủ hấp dẫn để hình thành đội ngũ nhà khoa học mạnh cho đất nước, nhất là thế hệ nhà khoa học trẻ thuộc Gen Z và các thế hệ kế tiếp, những người sẽ trưởng thành trong môi trường số, hội nhập quốc tế và cạnh tranh tri thức toàn cầu. Khi người tài được phát hiện đúng, đào tạo đúng, dùng đúng, đãi ngộ đúng và bảo vệ đúng, khoa học Việt Nam mới có thể tạo ra bước chuyển căn bản.Cơ chế đột phá: tài chính, hợp tác quốc tế và chấp nhận rủi ro khoa học
Bên cạnh đó, để khoa học cơ bản phát triển, cần những đột phá mạnh mẽ về cơ chế, nhất là cơ chế tài chính, cơ chế bảo vệ nhân tài và cơ chế hợp tác quốc tế.
Tài chính cho khoa học, công nghệ, nhất là tài chính có sử dụng ngân sách nhà nước, lâu nay vẫn là một điểm nghẽn lớn như một trong những vấn đề “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Đã đến lúc cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế tài chính có tính đột phá hơn, dựa trên kết quả, sản phẩm và tác động khoa học. Cần áp dụng mạnh mẽ cơ chế khoán chi, hậu kiểm linh hoạt, giảm tối đa thời gian nhà khoa học phải dành cho chứng từ, thủ tục, dự toán, quyết toán hay các quy trình mua sắm nhỏ lẻ. Điều cần kiểm soát chặt phải là mục tiêu nghiên cứu, chất lượng sản phẩm, tính trung thực, hiệu quả sử dụng nguồn lực và trách nhiệm giải trình, chứ không phải kiểm soát theo cách hành chính làm mất động lực sáng tạo.
Bên cạnh đó, cần từng bước hình thành hệ thống quỹ nghiên cứu cơ bản ở cấp quốc gia, ngành và địa phương, vận hành theo nguyên tắc cạnh tranh, minh bạch và độc lập về học thuật; đồng thời thiết kế cơ chế tài chính riêng cho khoa học xã hội và nhân văn. Sản phẩm của khoa học xã hội và nhân văn không phải lúc nào cũng có thể thương mại hóa, không phải lúc nào cũng tạo ra doanh thu trực tiếp, nhưng lại có tác động rất lớn đến chất lượng thể chế, chất lượng chính sách, năng lực quản trị và sự ổn định phát triển của đất nước. Vì vậy, không thể áp dụng máy móc logic thương mại hóa hay các tiêu chí đánh giá ngắn hạn đối với lĩnh vực này.
Một điểm rất quan trọng nữa là phân bổ tài chính cho khoa học phải chấp nhận rủi ro khoa học bỏi không phải mọi nghiên cứu đều tạo ra kết quả ứng dụng như dự kiến. Có những thất bại trong khoa học vẫn có giá trị, bởi nó giúp loại bỏ giả thuyết sai, mở ra hướng nghiên cứu mới hoặc tạo thêm dữ liệu cho cộng đồng học thuật. Vấn đề là thiết kế chính sách cần phải phân biệt rõ rủi ro khoa học trung thực với sai phạm, lãng phí hay thiếu trách nhiệm trong quản lý và sử dụng nguồn lực.
Cùng với đổi mới cơ chế trong nước, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế có chọn lọc. Hợp tác quốc tế trong khoa học cơ bản cần được hiểu là hợp tác để nâng chuẩn, mở mạng lưới, tiếp cận tri thức mới và cùng giải quyết những bài toán lớn. Nhưng hợp tác quốc tế có chọn lọc không phải là chạy theo số lượng thỏa thuận hợp tác, biên bản ghi nhớ, đoàn ra đoàn vào hay các hội thảo hình thức, mà phải lựa chọn đúng đối tác, đúng lĩnh vực, đúng cơ chế và đúng sản phẩm.
Trước hết, cần ưu tiên hợp tác lâu dài, hiệu quả với các trung tâm khoa học hàng đầu thế giới trong những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu chiến lược. Đồng thời, cần có chính sách linh hoạt, thu hút đặc biệt đối với trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Cần xây dựng thêm các chương trình “hồi hương học thuật” một cách thực chất. Nhiều nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài muốn đóng góp, nhưng còn vướng về thủ tục, thu nhập, điều kiện làm việc, nhà ở, trường học cho con, phòng thí nghiệm, dữ liệu, trợ lý nghiên cứu, quyền tự chủ học thuật. Nếu những điều kiện tối thiểu này không được giải quyết, lời mời gọi dù rất chân thành cũng khó biến thành sự gắn bó lâu dài.
Ngoài ra, cần thúc đẩy phòng thí nghiệm liên kết, cơ sở dữ liệu chung và nhóm nghiên cứu quốc tế, gắn hợp tác quốc tế với đào tạo thế hệ kế cận. Nếu hợp tác chỉ dừng ở hội thảo hoặc báo cáo, hiệu quả hợp tác khoa học sẽ rất hạn chế. Nhưng nếu hợp tác tạo ra một thế hệ nhà khoa học trẻ trưởng thành, một phòng thí nghiệm mới, một cơ sở dữ liệu chuẩn, một nhóm nghiên cứu mạnh, một hướng nghiên cứu lâu dài, thì đó mới là hợp tác có chiều sâu. Có thể nói, từ tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, khoa học cơ bản cần được nhìn nhận như nền móng của năng lực tự chủ quốc gia và là một cấu phần chiến lược của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Nhưng nền móng ấy chỉ thực sự bền vững khi được đặt trên ba trụ cột: con người, thể chế và nguồn lực. Con người phải được coi là trung tâm của sáng tạo khoa học; thể chế phải giải phóng sức sáng tạo, bảo vệ liêm chính và chấp nhận rủi ro khoa học; nguồn lực phải được đầu tư đủ dài hạn, đủ trọng tâm, đủ tin cậy và được phân bổ theo chất lượng, hiệu quả, tác động thực chất.
Đầu tư cho khoa học cơ bản vì vậy không chỉ là đầu tư cho tri thức, mà là đầu tư cho năng lực tự chủ công nghệ, năng lực dự báo chiến lược, chất lượng hoạch định chính sách, sức mạnh mềm và sức cạnh tranh lâu dài của quốc gia. Khi niềm tin chính sách gặp được khát vọng khoa học, khi nhà khoa học được trao cơ hội làm việc lớn và được bảo vệ trong sáng tạo, khoa học Việt Nam mới có thể tạo ra bước chuyển căn bản, đóng góp trực tiếp hơn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
TS Đặng Vũ Cảnh Linh
Phó viện trưởng Viện Đào tạo Bồi dưỡng cán bộ và NCKH
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam



