Việc Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu đến cuối năm 2026 có một số sản phẩm công nghệ chiến lược không chỉ là yêu cầu về tiến độ của một chương trình khoa học - công nghệ. Sâu xa hơn, đây là phép thử đối với năng lực tổ chức thực thi chính sách, khả năng huy động nguồn lực xã hội và mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học trong cuộc đua làm chủ những công nghệ có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Từ 28 nhiệm vụ với kinh phí dự kiến khoảng 5.300 tỷ đồng đến 85 đề xuất từ các địa phương, Việt Nam đang đứng trước bài toán chuyển một hệ thống chính sách mới hình thành thành những sản phẩm, công nghệ và doanh nghiệp có khả năng tạo giá trị thực trên thị trường.
Hệ thống siêu máy tính NVIDIA DGX B200 hiện đại bậc nhất thế giới đã có mặt tại Việt Nam
Từ “danh mục công nghệ” đến yêu cầu tạo ra sản phẩm cụ thể
Công nghệ chiến lược đang được đặt ở một vị trí khác với cách tiếp cận nghiên cứu và phát triển công nghệ truyền thống. Nếu nghiên cứu khoa học thường bắt đầu từ câu hỏi “có thể khám phá được gì”, thì chính sách công nghệ chiến lược phải đi xa hơn: công nghệ nào cần làm chủ, bài toán nào cần giải quyết, sản phẩm nào có thể hình thành và năng lực nào của quốc gia được nâng lên sau quá trình đầu tư.
Đây chính là ý nghĩa đáng chú ý trong yêu cầu của Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng tại cuộc họp ngày 26/8/2026: các bộ, ngành phải triển khai ngay những nhiệm vụ được giao với tinh thần quyết liệt hơn, khẩn trương hơn, phấn đấu đến cuối năm có một vài sản phẩm về công nghệ chiến lược.
Mục tiêu này cần được nhìn nhận như một “mốc kiểm chứng” của chính sách hơn là một chỉ tiêu đơn thuần về số lượng sản phẩm. Bởi nếu chỉ chạy theo việc có sản phẩm trước thời hạn, chương trình có thể rơi vào tình trạng lựa chọn những nhiệm vụ dễ hoàn thành, trong khi những bài toán công nghệ khó, đòi hỏi đầu tư dài hạn lại tiếp tục bị trì hoãn. Ngược lại, nếu chỉ chú trọng nghiên cứu mà thiếu yêu cầu về đầu ra, nguồn lực nhà nước có nguy cơ bị phân tán vào những kết quả khó chuyển hóa thành năng lực sản xuất.
Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược đã tạo ra khung định hướng tương đối rõ. Danh mục gồm 10 nhóm công nghệ, từ công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học - y sinh, năng lượng và vật liệu tiên tiến đến chip bán dẫn, an ninh mạng và lượng tử, công nghệ biển, hàng không - vũ trụ và đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị. Đi kèm là 30 sản phẩm công nghệ chiến lược.
Điểm đáng chú ý của cách tiếp cận này là công nghệ không còn được xem như một lĩnh vực biệt lập của ngành khoa học và công nghệ. AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, lượng tử hay robot đều có khả năng tác động trực tiếp tới năng suất, quốc phòng - an ninh, y tế, nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, năng lượng và quản trị quốc gia.
Chẳng hạn, một mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt không chỉ là một sản phẩm phần mềm. Nếu được phát triển đủ năng lực, nó có thể trở thành nền tảng cho trợ lý ảo chuyên ngành, dịch vụ công, giáo dục, y tế, doanh nghiệp và nhiều hoạt động kinh tế số. Tương tự, công nghệ bản sao số có thể phục vụ quản lý đô thị, hạ tầng, sản xuất và tài nguyên; AI camera xử lý tại biên có thể tạo ra các ứng dụng mới trong giao thông, an ninh, công nghiệp và đô thị thông minh.
Vì vậy, “sản phẩm công nghệ chiến lược” cần được hiểu rộng hơn một thiết bị hay phần mềm hoàn chỉnh. Đó phải là kết quả thể hiện năng lực làm chủ công nghệ lõi, khả năng tích hợp, làm chủ chuỗi giá trị và quan trọng nhất là khả năng tạo ra giá trị kinh tế - xã hội hoặc nâng cao năng lực tự chủ của đất nước.
Đây cũng là lý do việc Chính phủ chuyển trọng tâm từ xây dựng cơ chế sang tổ chức thực hiện có ý nghĩa đặc biệt. Ngay từ tháng 6/2026, Phó Thủ tướng đã yêu cầu các bộ, ngành chuyển ngay từ giai đoạn chuẩn bị sang triển khai thực tế, tập trung tạo ra sản phẩm, công nghệ và doanh nghiệp cụ thể, phấn đấu trong năm 2026 có những sản phẩm công nghệ chiến lược đầu tiên.
Sau gần ba tháng, yêu cầu tiếp tục được nhấn mạnh cho thấy một thông điệp chính sách nhất quán: Việt Nam không chỉ cần một “hệ sinh thái văn bản” cho công nghệ chiến lược mà phải nhanh chóng hình thành “hệ sinh thái sản phẩm”.
Nút thắt lớn nhất hiện nay nằm ở khâu thực thi
Những con số được báo cáo tại cuộc họp ngày 26/8 cho thấy nền tảng ban đầu đã được hình thành, nhưng khoảng cách từ chính sách đến sản phẩm vẫn còn khá lớn.
Đến ngày 24/8, có 28 đề xuất nhiệm vụ công nghệ chiến lược của 8/10 bộ, cơ quan với tổng kinh phí dự kiến khoảng 5.300 tỷ đồng. Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức thẩm định 27/28 hồ sơ; trong đó 9 nhiệm vụ được kết luận đủ điều kiện phê duyệt, 13 nhiệm vụ đang tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, 5 nhiệm vụ chưa đủ điều kiện và 1 nhiệm vụ chưa hoàn thành thẩm định. Đáng chú ý, tại thời điểm này chưa có nhiệm vụ nào được phê duyệt, dù 9 nhiệm vụ đã hoàn tất thẩm định và đủ điều kiện.
Đây chính là điểm nghẽn cần được nhìn nhận thẳng thắn. Trong công nghệ, thời gian không chỉ là một biến số hành chính. Một tháng chậm trong quy trình phê duyệt có thể đồng nghĩa với một chu kỳ công nghệ bị bỏ lỡ. Một doanh nghiệp có thể mất cơ hội thị trường; một nhóm nghiên cứu có thể mất nhân lực; một công nghệ có thể nhanh chóng trở nên lỗi thời khi thế giới đã chuyển sang thế hệ tiếp theo.
Nếu nhiệm vụ đã hoàn thành thẩm định nhưng chưa được phê duyệt, các bước tiếp theo như lựa chọn tổ chức chủ trì, đặt hàng hoặc tài trợ, ký hợp đồng và bố trí kinh phí đều bị kéo theo. Chính Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đánh giá việc chậm phê duyệt đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai nhiệm vụ trong năm 2026.
Điều này cho thấy cải cách chính sách công nghệ chiến lược không thể chỉ dừng ở việc ban hành thêm quy định. Vấn đề quan trọng hơn là thiết kế một quy trình đủ nhanh nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát chất lượng, đủ linh hoạt để xử lý các nhiệm vụ công nghệ có tính đặc thù.
Một nhiệm vụ nghiên cứu AI, chip bán dẫn hay công nghệ sinh học không thể được quản lý hoàn toàn giống một dự án hành chính thông thường. Công nghệ có độ bất định cao; kết quả nghiên cứu không phải lúc nào cũng tuyến tính; chu kỳ sản phẩm có thể thay đổi nhanh; đội ngũ nghiên cứu cần quyền chủ động nhất định trong lựa chọn giải pháp.
Do đó, yêu cầu “đúng quy định” cần đi cùng yêu cầu “đúng mục tiêu”. Cơ chế kiểm soát phải bảo đảm tiền ngân sách được sử dụng đúng, nhưng không nên tạo ra một quy trình quá chậm khiến chính sách mất đi lợi thế thời điểm.
Một vấn đề khác cũng rất đáng lưu ý là chất lượng hồ sơ nhiệm vụ chưa đồng đều. Một số hồ sơ chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chí về sản phẩm đầu ra, công nghệ lõi cần làm chủ, tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng và hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.
Điều này phản ánh một khoảng trống về năng lực thiết kế nhiệm vụ công nghệ. Để phát triển công nghệ chiến lược, không thể chỉ đặt câu hỏi “cần bao nhiêu tiền”. Cần trả lời đồng thời: Việt Nam muốn làm chủ công nghệ nào; năng lực hiện có đến đâu; khoảng cách với thế giới là bao nhiêu; doanh nghiệp nào có thể tiếp nhận; thị trường đầu ra ở đâu; tỷ lệ nội địa hóa có thể đạt mức nào; công nghệ có khả năng phát triển thành sản phẩm thương mại hay không; và nếu thất bại thì nguồn lực, dữ liệu, nhân lực được tích lũy có thể tiếp tục sử dụng như thế nào.
Nói cách khác, ngân sách công nghệ chiến lược phải được quản trị theo “chuỗi giá trị”, thay vì chỉ theo từng đề tài.
Đặc biệt, 28 nhiệm vụ hiện mới bao phủ 11/20 bài toán lớn được giao theo Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026. Điều đó có nghĩa là gần một nửa số bài toán lớn vẫn chưa có nhiệm vụ triển khai tương ứng.
Đây là vấn đề cần được xử lý ở tầm chiến lược. Không nên để những lĩnh vực dễ hình thành hồ sơ hoặc có sẵn năng lực nghiên cứu được ưu tiên quá mức, trong khi các lĩnh vực khó hơn nhưng có ý nghĩa nền tảng lại bị bỏ trống.
Công nghệ chiến lược, xét cho cùng, không phải một “danh sách thành tích”. Nó là một cấu trúc năng lực quốc gia. Vì thế, khoảng trống trong một nhóm công nghệ có thể trở thành điểm yếu của cả hệ sinh thái.
Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của chuỗi giá trị công nghệ
Một trong những thay đổi quan trọng nhất cần được thúc đẩy trong giai đoạn tới là chuyển từ mô hình “Nhà nước đặt hàng nghiên cứu” sang mô hình hợp tác thực chất giữa Nhà nước - doanh nghiệp - viện, trường.
Nhà nước có vai trò xác định bài toán lớn, tạo cơ chế, đầu tư cho những lĩnh vực có tính nền tảng và rủi ro cao, đồng thời tạo thị trường ban đầu thông qua mua sắm công hoặc các chương trình ứng dụng. Viện nghiên cứu và trường đại học cung cấp tri thức, nhân lực và công nghệ lõi. Nhưng doanh nghiệp phải là lực lượng biến tri thức đó thành sản phẩm, dịch vụ và năng lực sản xuất.
Báo cáo tại cuộc họp ngày 26/8 cho biết Bộ Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu cơ chế giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu có năng lực nhằm hình thành doanh nghiệp dẫn dắt phát triển công nghiệp công nghệ chiến lược, sản phẩm mang thương hiệu quốc gia, tổ chức nghiên cứu mạnh và trung tâm nghiên cứu xuất sắc.
Đây có thể là một trong những hướng chính sách có tính quyết định. Trong nền kinh tế công nghệ, năng lực quốc gia không thể được đo chủ yếu bằng số lượng đề tài nghiên cứu. Chỉ khi một công nghệ được doanh nghiệp hấp thụ, hoàn thiện, sản xuất ở quy mô đủ lớn, tiếp cận thị trường và tiếp tục tái đầu tư cho R&D, nó mới hình thành năng lực công nghiệp thực sự.
Một phòng thí nghiệm có thể tạo ra nguyên mẫu. Nhưng doanh nghiệp phải biến nguyên mẫu thành sản phẩm có giá thành cạnh tranh, tiêu chuẩn hóa, khả năng bảo trì, chuỗi cung ứng và thị trường.
Vì thế, chính sách công nghệ chiến lược cần đặc biệt quan tâm đến doanh nghiệp dẫn dắt. Không nhất thiết mọi nhiệm vụ đều phải phân bổ nguồn lực dàn đều. Với những lĩnh vực có yêu cầu vốn lớn, công nghệ phức tạp và chu kỳ đầu tư dài, cần lựa chọn những chủ thể đủ năng lực để tạo ra sản phẩm có khả năng dẫn dắt thị trường.
Điều này đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới cách đánh giá hiệu quả đầu tư công nghệ. Không nên chỉ nhìn vào số bài báo, số bằng sáng chế hay số đề tài hoàn thành. Cần bổ sung các chỉ số như số sản phẩm thương mại hóa, doanh thu từ công nghệ, mức độ nội địa hóa, số doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, số công nghệ lõi được làm chủ và khả năng mở rộng thị trường quốc tế.
Đối với địa phương, vấn đề còn phức tạp hơn. Đến ngày 20/8, Bộ Khoa học và Công nghệ đã nhận 85 ý tưởng đề xuất bài toán, nhiệm vụ công nghệ chiến lược từ 15 địa phương. Các đề xuất tập trung vào UAV, AI, bản sao số, blockchain, công nghệ tế bào, y học cá thể hóa, công nghệ gen và công nghệ sinh học. Tuy nhiên, phần lớn mới ở cấp độ ý tưởng hoặc nhu cầu ứng dụng, chưa hình thành hồ sơ nhiệm vụ hoàn chỉnh.
Con số 85 cho thấy sức lan tỏa của chính sách là rất đáng kể. Nhưng đồng thời, nó cũng đặt ra nguy cơ phân tán nguồn lực.
Nếu mỗi địa phương tự xây dựng một hệ thống AI, một nền tảng dữ liệu hay một mô hình công nghệ tương tự nhau, ngân sách có thể bị chia nhỏ mà không tạo được năng lực đủ lớn. Vì vậy, yêu cầu của Chính phủ về phân loại các nội dung trùng lặp, những nội dung có thể dùng chung và những mô hình từ Trung ương có thể nhân rộng là hoàn toàn cần thiết.
Tư duy “mỗi địa phương một dự án công nghệ” cần được thay bằng tư duy “mỗi địa phương một bài toán có giá trị, trong một hệ sinh thái dùng chung”.
Ví dụ, một nền tảng dữ liệu hoặc AI được phát triển ở cấp Trung ương có thể cung cấp hạ tầng chung, trong khi địa phương tập trung giải quyết bài toán đặc thù về nông nghiệp, giao thông, y tế, du lịch, môi trường hoặc quản trị đô thị. Cách làm này vừa giảm chi phí trùng lặp, vừa tạo thị trường đủ lớn cho doanh nghiệp công nghệ.
Chính sách cần tạo “đường băng” dài hạn cho công nghệ chiến lược
Mục tiêu có một vài sản phẩm vào cuối năm 2026 là cần thiết, nhưng đó chỉ nên được xem là điểm khởi đầu. Thách thức thực sự là sau sản phẩm đầu tiên, Việt Nam có thể tiếp tục phát triển sản phẩm thứ hai, thứ ba và hình thành cả chuỗi sản phẩm hay không.
Công nghệ chiến lược không thể phát triển bằng những chiến dịch ngắn hạn. AI, bán dẫn, lượng tử, công nghệ sinh học, robot hay vật liệu mới đều đòi hỏi tích lũy lâu dài về nhân lực, dữ liệu, hạ tầng nghiên cứu, vốn và thị trường.
Do đó, chính sách cần đồng thời tạo ba “đường băng”:
Thứ nhất là đường băng thể chế. Quy trình giao nhiệm vụ, cấp kinh phí, đặt hàng, nghiệm thu và thương mại hóa phải rõ ràng, linh hoạt và có khả năng thích ứng với tốc độ thay đổi của công nghệ.
Thứ hai là đường băng thị trường. Một sản phẩm công nghệ chiến lược nếu không có khách hàng đầu tiên sẽ rất khó vượt qua “thung lũng chết” từ phòng thí nghiệm đến thương mại hóa. Nhà nước có thể đóng vai trò khách hàng dẫn dắt ở những lĩnh vực phù hợp, nhưng phải gắn mua sắm công với tiêu chuẩn chất lượng, khả năng mở rộng và cạnh tranh.
Thứ ba là đường băng nhân lực. Công nghệ chiến lược cuối cùng vẫn là cuộc cạnh tranh về con người. Một chương trình có ngân sách lớn nhưng thiếu kỹ sư, nhà khoa học, kiến trúc sư hệ thống, chuyên gia quản trị công nghệ và đội ngũ doanh nhân công nghệ thì khó có thể tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh quốc tế.
Ở góc độ này, việc phát triển công nghệ chiến lược cũng phải gắn với chính sách thu hút và giữ chân nhân tài. Không chỉ cần đào tạo thêm nhân lực mà cần tạo môi trường để người giỏi được làm những bài toán lớn, được tiếp cận hạ tầng nghiên cứu và có cơ chế chia sẻ lợi ích tương xứng với giá trị họ tạo ra.
Một điểm quan trọng khác là phải xây dựng cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Không phải mọi nhiệm vụ công nghệ đều thành công. Trong nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, thất bại kỹ thuật không đồng nghĩa với thất bại chính sách nếu quá trình đó tạo ra tri thức mới, nhân lực mới, dữ liệu mới hoặc công nghệ nền tảng có thể tái sử dụng.
Vấn đề là phải phân biệt rõ giữa rủi ro công nghệ chính đáng và rủi ro do quản trị yếu kém. Chính sách tốt không phải là chính sách bảo đảm mọi dự án đều thành công, mà là chính sách bảo đảm nguồn lực thất bại vẫn tạo ra giá trị học hỏi và không để thất bại trở thành lãng phí.
Từ những yêu cầu hiện nay, có thể thấy nhiệm vụ trước mắt của Chính phủ không đơn thuần là thúc các bộ, ngành “chạy nhanh hơn”. Điều quan trọng hơn là phải thiết kế một cơ chế phối hợp đủ mạnh để toàn bộ hệ thống cùng chạy về một hướng.
Bộ Khoa học và Công nghệ cần tiếp tục giữ vai trò điều phối, chuẩn hóa tiêu chí và theo dõi tiến độ. Các bộ, ngành phải chịu trách nhiệm thực chất về nhiệm vụ được giao. Địa phương cần tập trung vào bài toán đặc thù, tránh đầu tư trùng lặp. Doanh nghiệp phải tham gia từ khâu xác định bài toán, nghiên cứu, thử nghiệm đến thương mại hóa. Viện, trường cần trở thành nguồn cung tri thức và nhân lực cho hệ sinh thái.
Quan trọng hơn cả là phải hình thành một cơ chế đánh giá liên tục: nhiệm vụ nào cần tăng tốc, nhiệm vụ nào cần điều chỉnh, nhiệm vụ nào nên dừng và nguồn lực nào cần chuyển sang hướng có khả năng tạo tác động lớn hơn.
Việc phấn đấu cuối năm 2026 có một số sản phẩm công nghệ chiến lược vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài một mốc thời gian. Nó là phép thử đầu tiên đối với năng lực biến quyết tâm chính trị thành năng lực công nghệ, biến ngân sách thành tài sản tri thức và biến tri thức thành sức mạnh kinh tế.
Nếu làm tốt, những sản phẩm đầu tiên của năm 2026 sẽ không chỉ là “thành quả” của một chương trình. Chúng có thể trở thành hạt nhân để hình thành doanh nghiệp công nghệ dẫn dắt, chuỗi cung ứng trong nước, thị trường mới và các năng lực công nghệ có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Ngược lại, nếu quá trình thực hiện tiếp tục bị kéo dài bởi thủ tục, nhiệm vụ phân tán, hồ sơ thiếu chất lượng hoặc thiếu sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, danh mục công nghệ chiến lược sẽ khó chuyển hóa thành năng lực sản xuất.
Vì vậy, yêu cầu cấp thiết hiện nay không phải là tạo ra thật nhiều nhiệm vụ, mà là chọn đúng bài toán, giao đúng người, tháo đúng điểm nghẽn và đo bằng sản phẩm thực.
Trong cuộc đua công nghệ toàn cầu, lợi thế không thuộc về quốc gia ban hành nhiều chính sách nhất, mà thuộc về quốc gia có khả năng biến chính sách thành năng lực làm chủ công nghệ nhanh nhất. Mốc cuối năm 2026, theo nghĩa đó, không phải đích đến. Đó là thời điểm Việt Nam cần chứng minh rằng một chiến lược công nghệ có thể bắt đầu tạo ra những sản phẩm mang dấu ấn của năng lực Việt Nam.
ThS Hà Sơn Thủy
Tài liệu tham khảo
- Báo Điện tử Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Phấn đấu cuối năm 2026 có sản phẩm về công nghệ chiến lược, ngày 26/8/2026.
- Báo Điện tử Chính phủ, 10 nhóm công nghệ chiến lược từ 1/7/2026, thông tin về Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg.
- Báo Điện tử Chính phủ, Khẩn trương triển khai công nghệ chiến lược, phấn đấu có sản phẩm cụ thể trong năm 2026, ngày 4/6/2026.
- Thông tin từ cuộc họp chuyên đề của Tổ Công tác về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược ngày 26/8/2026.



