19/06/2024 lúc 11:17 (GMT+7)
Breaking News

Cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực sự khuyến khích đội ngũ trí thức dấn thân và cống hiến cho đất nước

Giai đoạn phát triển 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Đảng và Nhà nước đặt nhiều kỳ vọng vào vai trò nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, xem đây là “đột phá chiến lược”, “động lực chính” để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Khi tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 6/8/2008 của Hội nghị Trung ương 7 khóa X về "Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận thực trạng việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức còn bất cập, hạn chế; một số nội dung của Nghị quyết chậm được thể chế; chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, đồng bộ; thiếu cơ chế, chính sách đột phá trong đầu tư, huy động nguồn lực, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng, tôn vinh trí thức, nhất là bộ phận trí thức tinh hoa, các nhà khoa học, nhà văn hoá lớn.  

Ảnh minh họa - TL

 

Thành quả đạt được và một số hạn chế, bất cập

Nghị quyết 27 của Trung ương khẳng định những quan điểm lớn của Đảng ta về trí thức và nêu ra những chủ trương quan trọng về xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.  Qua 15 năm thực hiện, đội ngũ trí thức Việt Nam đã có bước trưởng thành, phát triển cả về số lượng, chất lượng. Theo Tổng Cục thống kê, năm 2009, số lượng cán bộ có trình độ từ đại học trở lên chỉ chiếm khoảng 4,4% so với số lượng dân số trong độ tuổi lao động; đến năm 2020 con số này là 11,1% và năm 2022 là 11,87 %.

Nhìn chung, đội ngũ trí thức, nhà khoa học đã tích cực cống hiến tài năng, trí tuệ, tham gia xây dựng các luận cứ khoa học, tư vấn chủ trương, đường lối, chính sách phát triển cho Đảng, Nhà nước; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao khoa học - công nghệ, đẩy mạnh quá trình đổi mới sáng tạo, quá trình chuyển đổi số, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, ưu điểm, hoạt động của đội ngũ trí thức cũng còn một số hạn chế, bất cập. Đóng góp của đội ngũ trí thức vào sự nghiệp phát triển đất nước chưa được như kỳ vọng; đội ngũ trí thức đầu ngành còn thiếu, đội ngũ kế cận chưa theo kịp yêu cầu; cơ chế, chính sách thu hút nhân tài còn bất cập, thiếu đồng bộ, ít có tính đột phá; nhà khoa học chủ yếu hưởng lương theo ngạch, bậc hành chính (chuyên viên, cán sự), mức lương thường lại rất thấp, chưa tương xứng với kết quả hoạt động khoa học và công nghệ; cơ chế đãi ngộ còn thiếu tính động lực để đội ngũ trí thức, nhà khoa học có thể tận tâm, tận hiến cho đất nước. Bên cạnh sự đóng góp từ các sản phẩm nghiên cứu sáng tạo mà đội ngũ trí thức tạo ra, thì những sản phẩm ứng dụng rộng rãi để mang lại nhiều giá trị cho xã hội, cộng đồng cũng còn rất hạn chế…

Bên cạnh đó, phương thức lãnh đạo đối với đội ngũ trí thức chưa theo kịp yêu cầu của sự phát triển. Việc tổ chức thực hiện những lĩnh vực chủ yếu như nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo (là những lĩnh vực chủ yếu gắn liền với hoạt động của trí thức) còn hạn chế; thiếu thể chế về tài chính, chuyển giao, ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao; thiếu giải pháp đồng bộ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương. Đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả chưa cao, năng lực sáng tạo của các nhà khoa học chưa được phát huy.  Điều kiện, môi trường làm việc của nhà khoa học chưa khuyến khích đổi mới sáng tạo. Nhà khoa học chưa thực sự được tôn vinh, làm ảnh hưởng đến lòng tự tôn và tinh thần say mê khoa học của họ… Đặc biệt là sự  quan tâm của các cấp, các ngành trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đề bạt, đãi ngộ, tôn vinh đối với đội ngũ trí thức chưa đầy đủ; chưa thực sự coi trí thức là “nguyên khí của quốc gia”. Hoạt động Hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo chưa được đẩy mạnh, hiệu quả chưa cao, còn sử dụng lãng phí nhân lực chất lượng cao…

Một hạn chế nữa là sự quan tâm của các cấp, các ngành trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đề bạt, đãi ngộ, tôn vinh đối với đội ngũ trí thức, chưa đầy đủ; chưa thực sự coi trí thức là “nguyên khí của quốc gia”, gắn liền với vận mệnh của đất nước. Hợp tác quốc tế về khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo chưa được đẩy mạnh, hiệu quả chưa cao, còn sử dụng lãng phí nhân lực chất lượng cao.

Cần những giải pháp cụ thể hơn

Ngày nay, để chèo lái đất nước vượt qua thách thức và phát triển, tri thức và đội ngũ trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng. Nhưng cũng vì vậy mà đòi hỏi phải có những giải pháp thiết thực và đổi mới, sáng tạo hơn để có thể tạo được lực đẩy mạnh mẽ nâng tầm những cống hiến của đội ngũ trí thức.

Về nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc khuyến khích đội ngũ trí thức, nhà khoa học cống hiến hết mình thì có nhiều. Nhưng có thể tập trung ở một số nguyên nhân thuộc về cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện chính sách đó. Trong đó có sự vướng mắc giữa các hệ thống luật pháp của nước ta, chưa đảm bảo có được sự liên thông cần thiết. Mặt khác, có những cơ chế, chính sách đặt ra có tính khả thi thấp; phù hợp với quy định của luật này có thể lại vướng mắc các quy định của luật khác… Bên cạnh đó vẫn còn nhiều điểm nghẽn trong chính sách, cơ chế dẫn tới chưa phát huy được hết sức mạnh của đội ngũ trí thức…

Vậy làm thế nào để khắc phục có hiệu quả những hạn chế trong lĩnh vực quan trọng này? Một trong ngững cơ sở quan trọng chính là Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Nếu được triển khai và thực hiện tốt, Nghị quyết sẽ tạo điều kiện để trí thức Việt Nam phát huy hết tài năng, tâm huyết cống hiến cho sự phát triển của đất nước.

Trên tinh thần đó, cần chú trọng vào một số giải pháp sau:

1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của phát triển KHCN nói chung và đội ngũ trí thức, nhà khoa học nói riêng. Đúng như Đảng ta đã khẳng định tại Nghị quyết số 27-NQ/TW: “Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế... Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững... Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định”. Cần đổi mới mạnh mẽ tư duy và nâng cao, thống nhất nhận thức trong các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ trí thức trong tình hình mới…

2. Cần có cơ chế, chính sách ưu tiên, đột phá trong thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài, nhất là chính sách tuyển dụng, tiền lương, tạo môi trường làm việc, tập trung vào các nhà khoa học giỏi, có trình độ chuyên môn cao, có khả năng chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng, các chuyên gia đầu ngành, trí thức có uy tín, có thành tựu cống hiến trong các ngành, lĩnh vực quan trọng, các cơ quan tham mưu chiến lược. Đây là khâu được xem là quan trọng nhất và cũng khó nhất. Muốn làm được việc sử dụng người tài, nhà trí thức và nhà khoa học giỏi, cần vừa phải chú trọng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam cả trong và ngoài nước, vừa có cơ chế, chính sách đột phá thu hút, nhất là trọng dụng trí thức, đặc biệt là trí thức tinh hoa, chuyên gia đầu ngành và nhân tài của đất nước; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lớp trí thức trẻ kế cận.

3. Cần đẩy mạnh đầu tư nâng cấp và trang bị cơ sở vật chất hiện đại để hỗ trợ tối đa công việc của các nhà khoa học nhằm gia tăng khả năng giữ chân, thu hút nhân tài và khai thác có hiệu quả tiềm năng của họ.

Giai đoạn phát triển 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Đảng và Nhà nước đặt nhiều kỳ vọng vào vai trò nền tảng của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, xem đây là “đột phá chiến lược”, “động lực chính” để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao… Và, trong hành trình lớn lao này, đội ngũ trí thức, các nhà khoa học luôn giữ vai trò vừa có tính đột phá, vừa mang tính lâu dài./.

ThS Nguyễn Đình Bắc 

...