Từng giữ nhiều cương vị như nguyên Trưởng khoa Ung bướu và Phụ trách Trung tâm Tế bào gốc, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Ủy viên thường vụ Hội Ung thư Việt Nam, Tổng thư ký Hội Y học tái tạo và Trị liệu tế bào Việt Nam…trong hành trình sự nghiệp với nhiều dấu son đáng tự hào của mình, tôi vẫn nhớ mãi về những năm tháng miệt mài làm việc, nghiên cứu và đặt nền móng cho việc thành lập và phát triển chuyên ngành Ung thư Quân đội, mà khởi đầu chính là tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Đại tá, Thầy thuốc Ưu tú, PGS.TS.BSCK II Nguyễn Trung Chính - nguyên Trưởng khoa Ung bướu và Phụ trách Trung tâm Tế bào gốc, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông.
Có lẽ, để nói về về những kỷ niệm đáng nhớ nhất trong chặng đường gắn bó làm việc, cống hiến cho nghề y cao quý của mình, những dấu ấn kỷ niệm, những câu chuyện đặc biệt về giai đoạn nỗ lực làm việc, tận tâm nghiên cứu để xây dựng, phát triển chuyên ngành Ung thư Quân đội sẽ mãi lắng đọng ở một góc trang trọng nhất trong trái tim tôi. Khởi đầu của quá trình đó chính là tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 – một trong những bệnh viện hạng đặc biệt của ngành y tế và bệnh viện đa khoa, chiến lược tuyến cuối của Bộ Quốc phòng hiện nay, cũng là đơn vị tôi đã có thời gian công tác lâu nhất trong sự nghiệp.

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 - nơi ghi dấu những đóng góp, cống hiến sâu đậm của Đại tá, Thầy thuốc Ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Trung Chính với ngành y tế nước nhà.
Nhớ về những dấu ấn khởi đầu, đặt nền móng cho lĩnh vực điều trị Ung thư tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và ngành Quân y:
Ngày đó, tôi còn nhớ mãi thời điểm giữ cương vị là Giám đốc Trung tâm Huyết học Truyền máu Khu vực Đồng bằng Bắc bộ thuộc Bệnh viện Quân y 7, Quân khu 3 và sau đó có quyết định của Bộ Quốc phòng điều động mình chuyển lên công tác tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, tôi được phân công làm việc tại Khoa Tiêu hóa, phụ trách phân hiệu các bệnh máu. Chỉ sau khoảng 2 tháng công tác tại đây, tôi cùng Bệnh viện đã thành lập Khoa Huyết học lâm sàng ( Khoa A6 ) nhận điều trị các bệnh về máu cho quân đội và nhân dân. Tôi vẫn nhớ giai đoạn ấy, sau khoảng gần 6 tháng khi Khoa Huyết học lâm sàng, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đi vào hoạt động thì khoa tiếp nhận một bệnh nhân là một đồng chí Đại tá quân đội bị ung thư dạ dày. Trong hoàn cảnh thời đó khi mà toàn ngành Quân y và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đều chưa có chuyên ngành ung thư để điều trị cho các bệnh nhân ung thư nên Khoa Huyết học lâm sàng buộc phải mời GS.TS. Nguyễn Bá Đức – Giám đốc Bệnh viện K về trực tiếp thăm khám, chẩn đoán và cho phác đồ điều trị. Là người trực tiếp điều trị cho bệnh nhân ung thư dạ dày trên, tôi đã phối hợp cùng Bệnh viện K trực tiếp thăm khám và điều trị cho bệnh nhân. Căn cứ trên phác đồ điều trị do GS.TS. Nguyễn Bá Đức đưa ra, tôi cùng Khoa Huyết học lâm sàng đã xác định rõ cần phải sử dụng thuốc hóa chất để điều trị bệnh nhân ung thư dạ dày. Trong quá trình điều trị, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 xuất hiện nhiều luồng tư tưởng và ý kiến trái chiều. Một luồng tư tưởng thì băn khoăn, hoài nghi khả năng điều trị thành công bởi tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 lúc đó, Khoa Huyết học lâm sàng chưa có chức năng điều trị các bệnh lý ung thư, trong đó có ung thư dạ dày mà chỉ chuyên tiếp nhận, điều trị các bệnh lý về máu. Bên cạnh đó là luồng tư tưởng đồng ý cho tôi điều trị do bệnh nhân đã được GS.TS. Nguyễn Bá Đức trực tiếp chẩn đoán, thăm khám và cho phác đồ điều trị. Trong lúc đó, nhiều ý kiến của Bệnh viện cũng đồng ý điều trị cho bệnh nhân ung thư tại Khoa Huyết học lâm sàng, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 bởi nhận định, bệnh ung thư dạ dày trên được xác định là bệnh nội khoa, mà chuyên ngành huyết học lâm sàng cũng điều trị các bệnh lý ung thư bằng hóa chất. Và toàn bộ phác đồ điều trị cũng như các loại hóa chất tân dược đã được GS.TS. Nguyễn Bá Đức xây dựng nên nhận được sự ủng hộ của đông đảo chuyên gia, thầy thuốc trong Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Riêng cá nhân tôi cũng chung nhận định rằng, chuyên ngành huyết học lâm sàng cũng vẫn là điều trị hóa chất đối với các bệnh ung thư, bởi vậy khi đã có phác đồ điều trị và sự hướng dẫn chi tiết, cụ thể của GS.TS. Nguyễn Bá Đức cho bệnh lý ung thư dạ dày, các bác sĩ phải tuân thủ theo phác đồ của GS. Đức thì hoàn toàn có khả năng điều trị thành công cho bệnh nhân ung thư dạ dày trên.
Và rồi, sau quá trình điều trị tuân thủ tuyệt đối theo phác đồ của GS.TS. Nguyễn Bá Đức, cũng như trong quá trình điều trị cho bệnh nhân, GS.TS. Nguyễn Bá Đức đã thường xuyên trực tiếp đến thăm khám và chỉ đạo điều trị, tôi và đồng nghiệp tại Khoa Huyết học lâm sàng, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã giúp bệnh nhân ung thư dạ dày khỏe mạnh trở lại và đẩy lùi hoàn toàn các triệu chứng bệnh. Trước ca bệnh trên, toàn thể đội ngũ y bác sĩ của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đều rất phấn khởi và tin tưởng vào khả năng điều trị các bệnh lý ung thư của Khoa Huyết học lâm sàng.
Không dừng lại ở ca bệnh điều trị thành công đầu tiên, tôi và đội ngũ y bác sĩ của Khoa tiếp tục trau dồi, phấn đấu tích lũy kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về chuyên ngành Ung thư. Mỗi khi sắp xếp được thời gian, tôi và các bác sĩ của Khoa Huyết học lâm sàng lại tranh thủ đến học hỏi, nghiên cứu và trau dồi kiến thức về chuyên ngành Ung thư tại Bệnh viện K. Và tôi cũng như nhiều cán bộ y bác sĩ của Khoa Huyết học lâm sàng đã hoàn thành các khóa học về Chuyên khoa I, Chuyên khoa II, Tiến sĩ…chuyên ngành Ung thư, đảm bảo chất lượng đội ngũ nhân sự Khoa đáp ứng tốt yêu cầu và hoàn thành tốt các nhiệm vụ về chuyên môn điều trị bệnh lý ung thư. Cũng từ đây, sau khi xây dựng được một đội ngũ chuyên gia, y bác sĩ giàu y đức và vững vàng về kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn, tôi đã đề xuất và được Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đồng ý thành lập Khoa Bệnh máu và Ung thư của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, cũng là Khoa Bệnh máu và Ung thư đầu tiên của ngành Quân y. Với những dấu ấn và thành tích nổi bật đạt được trong chuyên ngành Ung thư, giai đoạn đó tôi đã vinh dự được bầu vào Ban thường vụ của Hội Ung thư Việt Nam Khóa II.
Trong thời kỳ đầu sau Hội nghị của Hội Ung thư Việt Nam mà tôi được bầu là Ủy viên Ban Thường vụ, nhờ các mối quan hệ chặt chẽ với các chuyên gia hàng đầu về ung thư của ngành y tế, tôi đã cử nhiều cán bộ y bác sĩ trong Khoa tham gia những khóa đào tạo chuyên sâu, nâng cao trình độ, kiến thức về chuyên ngành ung thư. Từ đây, với sự chỉ đạo sâu sát của Hội Ung thư Việt Nam, tôi đã góp tâm sức xây dựng và hình thành Khoa Bệnh máu và Ung thư của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Từ dấu mốc trên, theo ý kiến của Hội Ung thư Việt Nam là toàn bộ các Bệnh viện thuộc Quân đội nên xây dựng các Khoa Ung thư để điều trị cho người bệnh. Cũng từ đây, Bộ Quốc phòng đã quyết định tiếp tục triển khai thành lập Khoa Ung thư ở 2 Bệnh viện lớn thuộc Quân đội là Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Quân y 175. Sau đó khoảng 1 - 2 năm, căn cứ theo nghị quyết của Cục Quân y, Bộ Quốc phòng đã cho triển khai thành lập Khoa Ung thư tại toàn bộ các Bệnh viện thuộc tuyến B Quân đội với các đơn vị đảm bảo điều kiện.

Đại tá Nguyễn Trung Chính (thứ 2, từ trái sang) vinh dự được phong tặng học hàm Phó Giáo sư năm 2012.
Xâu chuỗi lại dòng sự kiện trên, có thể nói là khởi phát từ dấu ấn, đóng góp tâm huyết đặt nền móng của cá nhân tôi khi xây dựng, phát triển chuyên ngành Ung thư tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 thì sau này hầu hết các Bệnh viện Quân đội đã thành lập Khoa Ung thư, và ngành Ung thư Quân đội đã từng bước phát triển cũng như khẳng định vị thế trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe bộ đội và nhân dân.
…Ký ức khó phai không thể quên về ca ghép tế bào gốc điều trị u lympho ác tính không hodgkin đầu tiên không chỉ tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 mà của cả ngành y tế khu vực miền Bắc…
Một dấu ấn đáng nhớ nữa khi tôi đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm Khoa Bệnh máu và Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và nhận thấy thời điểm đó có Bệnh viện Truyền máu, Huyết học Tp. Hồ Chí Minh đã áp dụng truyền máu ghép tế bào gốc để điều trị các bệnh lý ung thư. Khi đó, toàn ngành Ung thư của cả nước mới có duy nhất Bs. Trần Văn Bé – Giám đốc Bệnh viện Truyền máu, Huyết học Tp. Hồ Chí Minh tổ chức ghép tế bào gốc điều trị cho bệnh nhân ung thư máu thành công. Trong đó, năm 1995 ca ghép tế bào gốc đặc biệt đầu tiên do Bs. Trần Văn Bé đứng đầu thực hiện đã mời đoàn chuyên gia gồm 16 bác sĩ, điều dưỡng tại Đài Loan sang hỗ trợ chuyên môn, và sau đó thì ngành y tế các tỉnh phía Nam đã tổ chức ghép thành công thêm một số ca bệnh ung thư khác. Biết thông tin trên, tôi đã gửi đề xuất đến Ban Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đồng ý cho áp dụng phương pháp ghép tế bào gốc để điều trị các bệnh lý ung thư. Tuy nhiên, nhận thấy còn nhiều hạn chế về chuyên môn, kiến thức lâm sàng, dù nhận được chủ trương đồng ý cho thực hiện của Bệnh viện, tôi vẫn gửi báo cáo, đề xuất Bệnh viện cử một đoàn bác sĩ, chuyên gia trực tiếp sang Hungary theo học về kỹ thuật ghép tế bào gốc.
Trong ký ức của tôi, đoàn bác sĩ của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 sang Hungary khi đó có tất cả 4 người, thì có 3 người theo học cận lâm sàng, chuyên sâu về kỹ thuật tách tế bào trong labo, chỉ duy nhất tôi là theo học lâm sàng, trực tiếp chẩn đoán và ghép tế bào. Năm tháng bên nước bạn xa xôi, tôi cùng đồng nghiệp luôn miệt mài học tập, say mê nghiên cứu và tích cực trau dồi, tích lũy tri thức để ngày về đóng góp cho ngành Ung thư Quân đội.Hoàn thành khóa học và trở về nước tiếp tục công việc, tôi đã bắt tay ngay vào việc tổ chức thực hiện kỹ thuật ghép tế bào gốc điều trị bệnh lý ung thư. Tôi còn nhớ mãi ca bệnh đầu tiên do mình trực tiếp thực hiện là một vị Trung tá Quân đội có tên là Nguyên. Trung tá Nguyên không may mắc phải bệnh u lympho ác tính không hodgkin và lúc đó đang điều trị tại Khoa Bệnh máu và Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Khi biết tôi quyết định lựa chọn ca bệnh của Trung tá Nguyên để tổ chức ghép tế bào gốc, gần như toàn bộ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đều dồn sự chú ý vào ca bệnh này, bởi ghép tế bào gốc là một kỹ thuật rất phức tạp và đội ngũ cán bộ y bác sĩ bệnh viện hầu như chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Trước đó dù có Bệnh viện Truyền máu, Huyết học Tp. Hồ Chí Minh đứng đầu là BS. Trần Văn Bé đã ghép tế bào gốc để điều trị bệnh nhân ung thư máu thành công nhưng ca ghép đó có sự tham gia hỗ trợ chuyên môn tích cực từ 16 chuyên gia của Đài Loan. Tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 khi đó, với khí phách bản lĩnh, phẩm chất can trường và ý chí sắt đá, tinh thần quyết thắng của người lính cụ Hồ đã trải qua chiến trường thực tế, tôi vẫn dứt khoát quyết định sẽ tự mình trực tiếp đảm đương các khâu chuyên môn quan trọng của ca ghép tế bào gốc tại Bệnh viện mà không nhờ đến các chuyên gia nước ngoài. Với tôi, đó là một ký ức tự hào, sâu lắng và lưu mãi trong tâm trí, bởi áp lực và thách thức của ca ghép tế bào gốc đó là rất lớn do đây là một kỹ thuật khó, và chỉ duy nhất tôi là được theo học chuyên sâu về lâm sàng tại nước ngoài. Ngay từ những vấn đề như lựa chọn người bệnh, đưa ra các phương pháp điều trị, sử dụng các liều thuốc như thế nào, ghép cho người bệnh như thế nào và sau ghép như thế nào, hay theo dõi người bệnh trong toàn bộ quá trình… tôi và cả Khoa Huyết học lâm sàng đều trực tiếp thực hiện.
Với quyết tâm cao độ, bản lĩnh và khí chất kiên trường của một người lính bước ra từ chiến trận, một người thương binh với ý thức không ngừng học hỏi, rèn luyện và tinh thần trách nhiệm cao về khoa học kỹ thuật, ngay khi bắt tay thực hiện ca ghép, tôi đã xác định điều trị cho bệnh nhân ổn định, đạt mức quy định sau đó mới dùng thuốc kích tế bào đến khi tế bào đạt tiêu chuẩn để huy động thì đưa sang máy huy động tế bào. Tôi nhớ là ca ghép đó đã phải huy động trong 4 ngày liền mới đủ lượng tế bào gốc để ghép, lượng tế bào gốc sau khi huy động được trữ trong tủ đông ở nhiệt độ - 196 độ C. Sau khi huy động đủ lượng tế bào gốc để ghép thì các bác sĩ bắt đầu sử dụng hóa chất liều cao điều trị để đánh tủy xương, diệt bạch cầu cho đến khi xét nghiệm bạch cầu bằng 0 là đạt yêu cầu.
Tuy nhiên, trước khi bắt đầu thực hiện ca ghép, chúng tôi còn gặp phải một số khó khăn, thách thức về cơ sở hạ tầng. Khi chỉ số bạch cầu của người bệnh bằng 0 cũng đòi hỏi phòng ghép tế bào gốc phải vô trùng tuyệt đối mới đạt tiêu chuẩn ghép. Sau khi Bệnh viện hoàn thiện xây dựng xong phòng ghép tế bào gốc đạt tiêu chuẩn, tôi ngay lập tức bắt đầu triển khai thực hiện ghép tế bào gốc điều trị cho người bệnh là Trung tá Nguyên. Sau khi tiến hành điều trị, bệnh nhân đạt lui bệnh chúng tôi bắt đầu tiến hành tách tế bào gốc với số lượng lớn gồm 10 túi tế bào gốc, mỗi túi khoảng 150 ml được lưu trữ trong tủ đông -196 độ C. Tiếp đó, chúng tôi tiếp tục điều trị hóa chất liều cao để bạch cầu bằng 0. Số lượng tế bào gốc đang trữ trong tủ đông -196 độ C sau đó được đưa lên 37 độ C và đưa vào ghép cho bệnh nhân.

Đại tá, TTƯT.PGS.TS.BSCKII Nguyễn Trung Chính và cộng sự đã thực hiện thành công ca ghép tế bào gốc điều trị u lympho ác tính không hodgkin đầu tiên không chỉ tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 mà của cả ngành y tế khu vực miền Bắc
Trong suốt quá trình thực hiện ca ghép tế bào gốc, tôi và đội ngũ y bác sĩ của Khoa Bệnh máu và Ung thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã nỗ lực hết sức, tập trung cao độ ghép tế bào gốc trong thời gian rất nhanh, theo một chu trình khép kín để chuyển tế bào gốc từ trong tủ đông ra ngoài. Sau khi hoàn thành chu trình ghép tế bào gốc, chúng tôi vẫn còn nhiều lo lắng, dự trù trường hợp xảy ra sốc phản vệ ở bệnh nhân bởi vì cơ thể vừa tiếp nhận một số lượng rất lớn tế bào gốc. May mắn là, trong thời gian đó bệnh nhân có sốc nhưng ở mức độ nhẹ và các bác sĩ đã xử lý chống sốc thành công. Giai đoạn sau khi hoàn thành việc ghép tế bào, bệnh nhân vẫn phải ở trong phòng vô trùng tuyệt đối một thời gian dài đợi cho đến khi bạch cầu mọc bình thường mới có thể ra ngoài. Dù vậy, một trong những khó khăn phải kể đến là quy trình chăm sóc bệnh nhân trong phòng ghép tế bào gốc. Dù đã được học tập bài bản, những điều dưỡng của Bệnh viện vẫn hết sức lưu ý và cẩn trọng trong quá trình làm việc từ việc ăn uống, sinh hoạt của bệnh nhân… toàn bộ các phương tiện, dụng cụ đều được đưa qua box vô trùng, khử trùng tuyệt đối, bởi nếu chỉ xảy ra một sơ xuất nhỏ cũng có thể gây nguy cơ nhiễm trùng cho bệnh nhân.
Và rồi, trong quá trình theo dõi sát sao, liên tục về chỉ số bạch cầu của bệnh nhân, sau 2 tuần từ ngày thực hiện ghép tế bào, không chỉ riêng tôi và kíp phẫu thuật mà cả Bệnh viện đều lo lắng, căng thẳng khi xét nghiệm cho ra chỉ số bạch cầu của bệnh nhân vẫn là 0. Nếu sau 4 tuần mà không mọc bạch cầu thì coi như ca ghép đã thất bại và cảm giác lo lắng, căng thẳng tột độ ấy chính là ký ức ấn tượng mãi mãi không thể quên trong cuộc đời người thầy thuốc của tôi. Nhưng trời không phụ lòng người, chính những lúc tưởng chừng như cận kề thất bại ấy thì thành quả đã đến với người xứng đáng. Bước vào tuần thứ 3 kể từ ngày thực hiện ghép, các bác sĩ phát hiện chỉ số bạch cầu của bệnh nhân đã hiện lên 0,1 và từ tôi đến cả Khoa Bệnh máu và Ung thư đều không khỏi vỡ òa vui sướng trong niềm hạnh phúc trân quý. Tôi không thể nào quên được thời khắc đó, là vào đúng 18h tối, khi các bác sĩ phát hiện thấy bệnh nhân mọc bạch cầu trở lại đã vui mừng khôn xiết, ngay lập tức báo cáo đến Giám đốc Bệnh viện, dù khi đó đang đi họp trên Bộ nhưng Giám đốc Bệnh viện cũng rất phấn khởi và gọi điện chúc mừng tôi, kíp phẫu thuật và toàn bộ Bệnh viện về thành công trên.
Kể từ thời điểm đó, chỉ số bạch cầu của bệnh nhân đều đặn tăng dần, từ 0,1 lên 0,2,0,3…và khi chỉ số bạch cầu lên đến 4, bệnh nhân được đưa từ phòng ghép tế bào gốc ra ngoài điều trị tại Bệnh viện là chỉ dấu báo hiệu ca ghép tế bào gốc điều trị bệnh lý u lympho ác tính không hodgkin do tôi thực hiện đã thành công tốt đẹp. Đây chính là ca ghép tế bào gốc điều trị ung thư thành công đầu tiên không chỉ riêng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 mà còn của toàn bộ ngành y tế khu vực miền Bắc.
… Hành trình miệt mài, tận tâm đóng góp và bền bỉ cống hiến cho ngành y tế vẫn không ngừng tiếp nối…
Từ năm 2019, tôi chính thức đảm nhiệm cương vị là Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông. Tại đây, tôi đã dành nhiều tâm huyết xây dựng Trung tâm Y học Tái tạo và Trị liệu tế bào Phương Đông; xây dựng Ngân hàng Mô Phương Đông. Trong đó, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông hiện đang tập trung hoàn thiện các thủ tục, gửi Bộ Khoa học Công nghệ đề xuất xin thử nghiệm lâm sàng điều trị Tế bào gốc tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông. Trong thời gian đó, có rất nhiều giảng viên, chuyên gia, nhà khoa học tại nhiều trường Đại học y khoa trên khắp cả nước đến học hỏi, tìm hiểu và nghiên cứu về lĩnh vực Tế bào gốc tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông.
Đến nay, cá nhân tôi đã có 7 năm liền giữ cương vị là Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông – một chặng đường dài đối với vai trò lãnh đạo của một bệnh viện tư nhân. Với tâm huyết, tầm nhìn và định hướng chỉ đạo sát sao của tôi, Bệnh viện Đa khoa Phương Đông đã có những bước phát triển vượt bậc và gặt hái nhiều thành tựu đáng tự hào. Bệnh viện Đa khoa Phương Đông hiện nay sở hữu cơ sở hạ tầng khang trang, tiện nghi cùng hệ thống trang thiết bị y tế hiện đại đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Với đặc thù là bệnh viện thuộc khối tư nhân, tuy gặp nhiều hạn chế, khó khăn trong việc xin thủ tục cấp phép hoạt động cho các đơn vị lâm sàng trực thuộc nhưng với bề dày kinh nghiệm, uy tín quan hệ của mình, tôi đã góp sức đưa Bệnh viện Đa khoa Phương Đông thành lập và triển khai hoạt động nhiều dự án tầm cỡ quốc tế theo Quyết định của Bộ Y tế như: Trung tâm Ung bướu, Xạ trị và Y học hạt nhân Quốc tế Phương Đông; Bệnh viện Sản nhi Quốc tế Phương Đông; Viện dưỡng lão Phương Đông Asahi; Trung tâm Y học Tái tạo và Trị liệu tế bào Phương Đông; Ngân hàng Mô Phương Đông… Bên cạnh đó, tôi đã thành lập và hiện là Viện trưởng Viện Ứng dụng Công nghệ tế bào thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Viện Ứng dụng Công nghệ tế bào kết hợp cùng Ngân hàng Mô sẽ tạo tiền đề thúc đẩy mạnh mẽ công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tế bào trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý, đóng góp tích cực cho ngành y tế nước nhà.
Hành trình từ người cựu chiến binh mang những vết thương của bom đạn chiến tranh trở về thời bình đã nỗ lực, phấn đấu học tập, nghiên cứu không ngừng nghỉ để trở thành Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Phương Đông, Viện trưởng nhiều Viện nghiên cứu về ung bướu, tế bào gốc… một thầy thuốc, nhà khoa học tâm huyết, nhiệt thành của ngành y tế là chặng đường nhiều gian khó, thử thách mà không phải ai cũng có thể dễ dàng đạt được. Nhìn lại hành trình học tập, rèn luyện, nỗ lực phấn đấu và đóng góp cho ngành y tế của mình, tôi nhận thấy những thành quả ý nghĩa đạt được trong sự nghiệp đã qua xuất phát chính từ y đức, tấm lòng vì người bệnh và sự kiên định, theo đuổi đến cùng sứ mệnh chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân thầm lặng mà cao quý. Và tôi rất trân trọng cũng như biết ơn những năm tháng làm việc, nghiên cứu với những dấu ấn đáng tự hào tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã góp phần tạo dựng nền tảng y đức, phẩm chất chuyên môn và bề dày kinh nghiệm cùng uy tín học thuật để gặt hái những trái ngọt ý nghĩa trong sự nghiệp y khoa như ngày hôm nay.
Nguyễn Trung Chính
Đại tá, TTƯT.PGS.TS.BSCK II



