09/10/2026 lúc 09:26 (GMT+7)
Breaking News

Tái cấu trúc chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Từ phân bổ nguồn lực đến kiến tạo năng lực phát triển quốc gia

Tóm tắt: Việc phê duyệt Đề án tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026–2035 theo Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 mở ra hướng tiếp cận mới trong tổ chức, quản lý và sử dụng nguồn lực khoa học của đất nước. Thay vì vận hành các chương trình theo những mục tiêu riêng biệt, yêu cầu đặt ra là hình thành một hệ thống liên thông từ nghiên cứu cơ bản, phát triển công nghệ đến ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa. Bài viết phân tích cơ sở và nội dung trọng tâm của chủ trương tái cấu trúc, đồng thời luận giải những vấn đề về quản trị chương trình, phân bổ ngân sách, liên kết viện – trường – doanh nghiệp, phát triển nhân lực và đánh giá hiệu quả đầu tư công. Qua đó, đề xuất một số định hướng nhằm chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành năng lực công nghệ, năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.

Từ khóa: Tái cấu trúc chương trình; khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; công nghệ chiến lược; thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Abstract: The approval of the Scheme on Restructuring National Science, Technology and Innovation Programs for the 2026–2035 period under Decision No. 1951/QD-TTg dated October 8, 2026, establishes a new approach to organizing, managing and utilizing national scientific resources. Rather than operating programs as separate initiatives, the policy emphasizes an integrated system connecting basic research, technology development, application, transfer and commercialization. This article examines the rationale and key components of the restructuring initiative, while analyzing challenges related to program governance, public funding allocation, university–research institute–enterprise collaboration, human resource development and performance evaluation. It also proposes policy directions to translate research outcomes into technological capabilities, productivity gains and stronger economic competitiveness.

Keywords: Program restructuring; science and technology; innovation; strategic technologies; research commercialization.

Tái cấu trúc chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Từ phân bổ nguồn lực đến kiến tạo năng lực phát triển quốc gia. Ảnh minh họa - TL

1. Đặt vấn đề: Đổi mới cách tổ chức nguồn lực khoa học

Trong nền kinh tế tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ tạo ra những sản phẩm mới mà còn làm thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, mô hình quản trị, cấu trúc thị trường và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Khả năng tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ, chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và mở rộng quy mô ứng dụng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng quyết định chất lượng tăng trưởng dài hạn.

Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra nhiệm vụ phải nâng cao hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ; đồng thời tạo dựng cơ chế để các kết quả nghiên cứu đóng góp trực tiếp hơn vào giải quyết những vấn đề lớn của nền kinh tế và xã hội. Điều đó không đơn thuần đòi hỏi tăng nguồn kinh phí, mà còn yêu cầu xem xét lại cách thức thiết kế chương trình, lựa chọn nhiệm vụ, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả.

Thực tiễn cho thấy, một hệ thống chương trình khoa học có thể sở hữu nhiều nhiệm vụ nghiên cứu, nhiều sản phẩm khoa học và đội ngũ chuyên gia có trình độ, nhưng những kết quả đó chưa chắc đã chuyển hóa tương xứng thành công nghệ được ứng dụng rộng rãi, sản phẩm có sức cạnh tranh hoặc năng lực sản xuất mới. Khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, giữa kết quả thí nghiệm và sản xuất quy mô công nghiệp, giữa tri thức khoa học và khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn vì vậy cần được nhìn nhận như một vấn đề quản trị hệ thống.

Trong bối cảnh đó, ngày 08/10/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1951/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026–2035”. Đề án đặt mục tiêu tổ chức lại hệ thống chương trình theo hướng tinh gọn, đồng bộ, phân định rõ mục tiêu, phạm vi và định hướng kết quả; đồng thời bảo đảm sự liên thông từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ, chuyển giao, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm [1].

Điểm đáng chú ý của chủ trương này là sự chuyển dịch trọng tâm từ quản lý những chương trình tương đối độc lập sang tổ chức một hệ thống có khả năng phối hợp, kế thừa và hỗ trợ lẫn nhau. Đây không chỉ là việc sắp xếp lại danh mục chương trình, mà còn là cơ hội đổi mới tư duy quản trị khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở quy mô quốc gia.

2. Từ phân tán nguồn lực đến hệ thống chương trình có tính liên thông

Theo thông tin được công bố tại cuộc họp về Đề án ngày 11/08/2026, giai đoạn 2016–2025, hệ thống chương trình khoa học và công nghệ quốc gia có khoảng 42 chương trình, triển khai khoảng 4.800 nhiệm vụ, với tổng kinh phí từ ngân sách nhà nước gần 17.000 tỷ đồng [2].

Những con số này cho thấy quy mô đáng kể của hoạt động đầu tư công cho nghiên cứu và phát triển. Tuy nhiên, số lượng chương trình, nhiệm vụ hay tổng kinh phí mới phản ánh quy mô đầu vào và hoạt động triển khai, chưa đủ để xác định mức độ đóng góp của khoa học, công nghệ đối với năng suất, năng lực tự chủ công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Vấn đề cốt lõi là nguồn lực được tổ chức như thế nào, các nhiệm vụ có liên kết với nhau hay không, kết quả nghiên cứu được tiếp nhận ra sao và giá trị tạo ra có tương xứng với chi phí đầu tư hay không.

Khi nhiều chương trình cùng tồn tại nhưng thiếu sự phân định rõ ràng về mục tiêu, có thể xuất hiện nguy cơ trùng lặp nhiệm vụ, phân tán kinh phí hoặc thiếu cơ chế chuyển tiếp giữa các giai đoạn nghiên cứu. Một đề tài có thể tạo ra kết quả khoa học tốt nhưng không có nguồn lực tiếp tục hoàn thiện công nghệ; một sản phẩm thử nghiệm có thể đạt yêu cầu kỹ thuật nhưng thiếu đơn vị tiếp nhận, cơ sở kiểm định hoặc thị trường đầu ra.

Ở chiều ngược lại, nếu mỗi chương trình được thiết kế như một cấu phần của hệ thống chung, kết quả của giai đoạn trước có thể trở thành đầu vào cho giai đoạn tiếp theo. Nghiên cứu cơ bản cung cấp tri thức nền tảng; nghiên cứu ứng dụng phát triển giải pháp; chương trình trọng điểm hỗ trợ giải quyết bài toán lớn; chương trình đổi mới sáng tạo tạo điều kiện hoàn thiện, chuyển giao và thương mại hóa; trong khi những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt được tập trung nguồn lực theo cơ chế phù hợp.

Từ góc độ quản lý công, tái cấu trúc vì vậy cần giải quyết đồng thời ba yêu cầu.

Thứ nhất, tinh gọn về tổ chức nhưng không thu hẹp không gian nghiên cứu. Việc sắp xếp chương trình phải hướng tới giảm sự chồng chéo, xác định rõ trách nhiệm và nâng cao hiệu quả phối hợp, chứ không nên đồng nhất tinh gọn với cắt giảm cơ học số lượng nhiệm vụ hoặc ưu tiên quá mức những kết quả có thể thu lợi ngay.

Thứ hai, tập trung nguồn lực nhưng vẫn duy trì tính đa dạng của nền tảng khoa học. Những công nghệ chiến lược cần được ưu tiên, song nghiên cứu cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học quản lý và các lĩnh vực nền tảng vẫn giữ vai trò thiết yếu đối với phát triển dài hạn.

Thứ ba, quản lý theo kết quả nhưng phải tính đến đặc thù và mức độ rủi ro của nghiên cứu. Không phải mọi nghiên cứu đều có thể tạo ra sản phẩm thương mại trong thời gian ngắn. Một phát hiện khoa học, một phương pháp mới hay một cơ sở dữ liệu có giá trị cũng có thể là thành quả quan trọng, dù chưa trực tiếp tạo ra doanh thu.

Như vậy, giá trị của tái cấu trúc không nằm ở việc chuyển từ nhiều chương trình sang sáu nhóm chương trình đơn thuần, mà ở khả năng hình thành một hệ thống phân công hợp lý, kết nối hiệu quả và sử dụng nguồn lực theo mục tiêu phát triển.

3. Sáu nhóm chương trình và logic tổ chức hệ sinh thái khoa học quốc gia

Theo Quyết định số 1951/QĐ-TTg, hệ thống chương trình thuộc phạm vi Đề án được tổ chức thành sáu nhóm: phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nghiên cứu cơ bản; trọng điểm quốc gia; đổi mới sáng tạo quốc gia; quốc gia đặc biệt; và chuyển đổi số quốc gia [1].

Cách phân nhóm này tạo cơ sở để xác định rõ hơn vai trò của từng cấu phần trong hệ sinh thái khoa học và công nghệ.

3.1. Phát triển tiềm lực: Xây dựng nền tảng cho năng lực nghiên cứu dài hạn

Nhóm chương trình phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia hướng tới nâng cao năng lực của các tổ chức nghiên cứu, phát triển đội ngũ chuyên gia và hoàn thiện hạ tầng khoa học, công nghệ.

Đây là nhóm có ý nghĩa nền tảng bởi năng lực công nghệ quốc gia không thể hình thành chỉ bằng việc đặt hàng một số sản phẩm riêng lẻ. Quốc gia muốn làm chủ công nghệ phải có đội ngũ nhân lực đủ trình độ, hệ thống phòng thí nghiệm, hạ tầng nghiên cứu, dữ liệu, thiết bị thử nghiệm và các tổ chức có khả năng tích lũy tri thức qua nhiều thế hệ.

Đầu tư cho tiềm lực thường có thời gian hoàn vốn dài, khó đánh giá đầy đủ bằng doanh thu hoặc số lượng sản phẩm trong từng năm. Vì vậy, cần theo dõi đồng thời năng lực nghiên cứu được hình thành, chất lượng nhân lực, mức độ khai thác hạ tầng dùng chung và khả năng tham gia các nhiệm vụ có yêu cầu chuyên môn cao.

Việc phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh cũng cần gắn với môi trường làm việc ổn định, cơ chế hợp tác liên ngành và khả năng tiếp cận nguồn lực cạnh tranh. Nếu chỉ đầu tư thiết bị mà không có cơ chế sử dụng hiệu quả, hoặc đào tạo nhân lực mà thiếu cơ hội tham gia các dự án thực chất, hiệu quả đầu tư sẽ bị hạn chế.

3.2. Nghiên cứu cơ bản: Bảo đảm nguồn tri thức cho tương lai

Nghiên cứu cơ bản có vai trò tạo ra tri thức mới, phát hiện quy luật, phát triển phương pháp và cung cấp nền tảng cho các hướng nghiên cứu ứng dụng tiếp theo.

Trong môi trường cạnh tranh công nghệ, một quốc gia chỉ chủ yếu tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài sẽ gặp giới hạn về khả năng điều chỉnh, cải tiến và làm chủ những công nghệ phức tạp. Năng lực nghiên cứu cơ bản giúp mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ ở chiều sâu, tạo điều kiện phát triển các giải pháp phù hợp với điều kiện trong nước.

Đặc biệt, kết quả nghiên cứu cơ bản không phải lúc nào cũng có thể dự báo trước khả năng ứng dụng. Những phát hiện ban đầu có thể chưa tạo ra sản phẩm ngay nhưng lại mở đường cho các công nghệ có giá trị trong tương lai.

Bởi vậy, khi tái cấu trúc chương trình, cần tránh tạo ra một hệ thống đánh giá chỉ ưu tiên các kết quả dễ định lượng hoặc có khả năng thương mại hóa nhanh. Các tiêu chí đối với nghiên cứu cơ bản cần chú trọng chất lượng khoa học, tính mới, đóng góp tri thức, đào tạo nhân lực và tiềm năng mở ra hướng nghiên cứu mới.

Một hệ thống khoa học có năng lực phải đồng thời giải quyết nhu cầu trước mắt và chuẩn bị những điều kiện tri thức cho các bài toán chưa xuất hiện đầy đủ ở hiện tại.

3.3. Chương trình trọng điểm quốc gia: Giải quyết các bài toán lớn, liên ngành

Nhóm chương trình trọng điểm quốc gia hướng tới tập trung nguồn lực giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ lớn, có tính liên ngành, liên lĩnh vực và tác động quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, quản trị quốc gia, văn hóa, con người cũng như quốc phòng, an ninh [1].

Cách tiếp cận này đòi hỏi thay đổi từ tư duy lựa chọn từng đề tài riêng lẻ sang xác định những bài toán đầu ra mà nhiều tổ chức có thể cùng tham gia giải quyết.

Chẳng hạn, một bài toán về quản lý tài nguyên, phát triển năng lượng, bảo đảm an ninh dữ liệu hay nâng cao năng suất sản xuất có thể cần đồng thời công nghệ kỹ thuật, dữ liệu, cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, nguồn nhân lực và mô hình tổ chức thực hiện. Nếu chia nhỏ các nội dung mà không có cơ chế điều phối chung, những kết quả riêng lẻ khó tạo thành giải pháp hoàn chỉnh.

Vì vậy, mỗi chương trình trọng điểm cần có mục tiêu đủ rõ, lộ trình triển khai, các mốc đánh giá trung gian và cơ chế phối hợp giữa những chủ thể tham gia. Cơ quan chủ trì phải chịu trách nhiệm không chỉ về tiến độ thực hiện nhiệm vụ mà còn về khả năng tích hợp kết quả thành sản phẩm, giải pháp hoặc mô hình có thể đưa vào thực tiễn.

3.4. Đổi mới sáng tạo quốc gia: Đưa kết quả nghiên cứu đến gần thị trường

Nếu nghiên cứu tạo ra tri thức và phát triển công nghệ tạo ra giải pháp kỹ thuật, đổi mới sáng tạo là quá trình đưa những kết quả đó vào thực tiễn, tạo ra giá trị mới về kinh tế hoặc xã hội.

Nhóm chương trình đổi mới sáng tạo quốc gia có vai trò hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ; phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, tài sản trí tuệ, thị trường khoa học và công nghệ; đồng thời thúc đẩy hoạt động thương mại hóa sản phẩm [1].

Đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với khả năng chuyển hóa đầu tư nghiên cứu thành năng lực cạnh tranh. Một công nghệ dù có triển vọng nhưng không được kiểm chứng, hoàn thiện, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và kết nối với thị trường thì vẫn khó phát huy giá trị.

Do đó, ngay từ khi thiết kế nhiệm vụ, cần xem xét nhu cầu của người sử dụng, điều kiện sản xuất, chi phí triển khai, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng mở rộng quy mô và phương án tiếp nhận kết quả. Việc xác định sớm doanh nghiệp hoặc đơn vị dự kiến ứng dụng sẽ giúp nhóm nghiên cứu có thông tin thực tế để điều chỉnh hướng phát triển công nghệ.

Tuy nhiên, hỗ trợ đổi mới sáng tạo không nên chỉ tập trung vào doanh nghiệp lớn hoặc những sản phẩm đã có thị trường rõ ràng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ, các tổ chức trung gian chuyển giao công nghệ cũng cần có cơ hội tiếp cận nguồn lực, bởi đây có thể là những chủ thể đưa công nghệ vào các thị trường chuyên biệt và tạo ra mô hình kinh doanh mới.

3.5. Chương trình quốc gia đặc biệt: Tập trung cho nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược

Nhóm chương trình quốc gia đặc biệt hướng tới những mục tiêu có quy mô lớn, ý nghĩa đặc biệt đối với công nghệ chiến lược, các dự án quan trọng quốc gia, nghiên cứu chiến lược và chính sách, cũng như những yêu cầu về quốc phòng, an ninh [1].

Đối với những nhiệm vụ có độ phức tạp cao, vốn đầu tư lớn và mức độ bất định đáng kể, cách thức quản lý thông thường có thể chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về tốc độ, phối hợp và tính linh hoạt. Việc áp dụng cơ chế đặc thù, trong khuôn khổ pháp luật, có thể tạo điều kiện tổ chức chuỗi nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa liên tục.

Dẫu vậy, cơ chế đặc thù không đồng nghĩa với giảm yêu cầu về trách nhiệm giải trình. Ngược lại, khi nguồn lực tập trung lớn vào một số nhiệm vụ, yêu cầu công khai mục tiêu, xác định trách nhiệm, kiểm soát xung đột lợi ích và đánh giá kết quả càng trở nên quan trọng.

Một chương trình công nghệ chiến lược cần được xem xét trên toàn bộ chuỗi giá trị: từ năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp, sản xuất đến khả năng vận hành, bảo trì và phát triển các thế hệ sản phẩm tiếp theo. Chỉ khi hình thành được năng lực làm chủ có tính kế thừa, kết quả đầu tư mới tạo ra nền tảng tự chủ công nghệ bền vững.

3.6. Chuyển đổi số quốc gia: Hạ tầng liên kết và công cụ nâng cao hiệu quả quản trị

Chuyển đổi số vừa là một nhóm chương trình có mục tiêu riêng, vừa là phương thức hỗ trợ quản lý và kết nối toàn bộ hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nền tảng số quản lý chương trình có thể hỗ trợ theo dõi tiến độ, cập nhật kinh phí, quản lý sản phẩm, kết nối chuyên gia, chia sẻ dữ liệu và đánh giá kết quả. Nếu được thiết kế đồng bộ, hệ thống này còn giúp nhận diện các nhiệm vụ có nội dung gần nhau, những khoảng trống nghiên cứu hoặc những kết quả có khả năng tiếp tục phát triển.

Tuy nhiên, số hóa quy trình không tự động tạo ra hiệu quả quản trị. Nếu dữ liệu đầu vào thiếu chuẩn hóa, các cơ quan sử dụng những hệ thống không tương thích hoặc chỉ cập nhật thông tin theo yêu cầu hình thức, nền tảng số sẽ khó phát huy giá trị.

Do vậy, cần thống nhất các chuẩn dữ liệu, mã định danh nhiệm vụ, cơ chế phân quyền truy cập và quy định về cập nhật thông tin. Việc liên thông cũng phải đi cùng bảo vệ dữ liệu, bí mật công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ và những yêu cầu về an ninh quốc gia.

Sáu nhóm chương trình chỉ thực sự tạo thành một hệ thống khi có sự kết nối về mục tiêu, dữ liệu, nguồn lực và cơ chế chuyển tiếp kết quả. Đây là yêu cầu xuyên suốt của quá trình tái cấu trúc.

4. Quản lý theo kết quả: Không chỉ đếm nhiệm vụ, đề tài và sản phẩm

Một trong những định hướng đáng chú ý của Đề án là tăng cường theo dõi, đánh giá kết quả và hiệu quả chương trình trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Theo mục tiêu được công bố, đến năm 2030, 100% chương trình thuộc phạm vi Đề án được theo dõi, đánh giá trên nền tảng số; đồng thời đặt ra những mục tiêu về nhóm nghiên cứu mạnh, sản phẩm công nghệ chiến lược và phát triển doanh nghiệp [1].

Để thực hiện định hướng này, cần phân biệt rõ đầu vào, hoạt động, đầu ra, kết quả và tác động. Kinh phí, nhân lực và thiết bị là đầu vào; nhiệm vụ nghiên cứu, thử nghiệm là hoạt động; bài báo, sáng chế, quy trình hoặc sản phẩm mẫu là đầu ra; việc áp dụng công nghệ, nâng cao năng suất hay cải thiện chất lượng dịch vụ là kết quả; còn tác động dài hạn có thể thể hiện qua năng lực cạnh tranh, tự chủ công nghệ và chất lượng phát triển.

Nếu chỉ đánh giá bằng số lượng đề tài hoàn thành hoặc báo cáo nghiệm thu, hệ thống có thể khuyến khích những kết quả dễ đạt nhưng chưa chắc tạo ra giá trị thực tiễn. Ngược lại, nếu chỉ căn cứ vào doanh thu hoặc lợi nhuận, nhiều nghiên cứu cơ bản và nhiệm vụ công ích có thể bị đánh giá chưa tương xứng.

Một khung đánh giá phù hợp cần kết hợp các chỉ số định lượng với đánh giá chuyên môn độc lập. Tùy loại chương trình, các chỉ số có thể bao gồm chất lượng khoa học, mức độ hoàn thành mục tiêu kỹ thuật, khả năng lặp lại kết quả, mức độ sẵn sàng công nghệ, số hợp đồng chuyển giao, tỷ lệ sản phẩm được ứng dụng, năng suất tăng thêm hoặc chi phí xã hội được tiết kiệm.

Đặc biệt, cần đánh giá theo từng giai đoạn. Ở giai đoạn nghiên cứu cơ bản, trọng tâm là chất lượng và tính mới của tri thức. Khi bước sang phát triển công nghệ, yêu cầu chuyển sang khả năng kiểm chứng và hoàn thiện giải pháp. Ở giai đoạn thương mại hóa, những yếu tố như chi phí sản xuất, độ tin cậy, tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng tiếp cận thị trường trở nên quan trọng hơn.

Việc phân biệt các cấp độ kết quả sẽ giúp hạn chế tình trạng áp dụng một bộ tiêu chí đồng nhất cho những hoạt động có bản chất khác nhau. Đồng thời, đánh giá độc lập cần được thực hiện ở các mốc quan trọng để kịp thời điều chỉnh hoặc chấm dứt những nhiệm vụ không còn phù hợp, dành nguồn lực cho các hướng có triển vọng hơn.

5. Thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Khâu cần được thiết kế ngay từ đầu

Một thách thức lớn của đổi mới sáng tạo là khoảng cách giữa khả năng tạo ra công nghệ và khả năng đưa công nghệ vào sử dụng. Khoảng cách này thường không chỉ xuất phát từ chất lượng nghiên cứu, mà còn liên quan đến nguồn vốn phát triển sản phẩm, hạ tầng thử nghiệm, tiêu chuẩn, quyền sở hữu trí tuệ, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận khách hàng.

Vì vậy, thương mại hóa cần được coi là một cấu phần của quá trình phát triển công nghệ, thay vì nhiệm vụ phát sinh sau khi đề tài kết thúc.

Trước hết, đối với những nhiệm vụ hướng tới sản phẩm cụ thể, cần xác định sớm đơn vị sử dụng hoặc phương án tiếp nhận kết quả. Doanh nghiệp có thể tham gia xác định yêu cầu kỹ thuật, góp dữ liệu thực tế, thử nghiệm sản phẩm và đánh giá tính khả thi của phương án sản xuất. Cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và tổ chức trung gian có thể đảm nhiệm những khâu khác nhau trong chuỗi phát triển.

Thứ hai, cần có cơ chế hỗ trợ những giai đoạn công nghệ chưa đủ điều kiện thu hút đầu tư thương mại. Một kết quả nghiên cứu có triển vọng vẫn có thể cần thêm kinh phí để hoàn thiện nguyên mẫu, kiểm định, chứng nhận hoặc thử nghiệm trong môi trường vận hành thực tế. Nếu thiếu nguồn lực cho những bước này, công nghệ dễ mắc kẹt giữa phòng thí nghiệm và thị trường.

Thứ ba, cần phát triển cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý giữa nhà khoa học, tổ chức chủ trì, doanh nghiệp và các chủ thể đầu tư. Quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền khai thác thương mại và trách nhiệm bảo vệ tài sản trí tuệ phải được xác định minh bạch. Cơ chế rõ ràng sẽ tạo động lực để nhà khoa học chủ động hợp tác, còn doanh nghiệp có căn cứ để đầu tư phát triển sản phẩm.

Thứ tư, cần khai thác vai trò của thị trường công trong việc thử nghiệm và ứng dụng các sản phẩm công nghệ phù hợp. Đối với những sản phẩm đáp ứng yêu cầu pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật, các cơ quan, đơn vị công lập có thể trở thành khách hàng đầu tiên thông qua các cơ chế mua sắm, thuê hoặc sử dụng hợp pháp. Cách tiếp cận này có thể tạo điều kiện kiểm chứng sản phẩm trong môi trường thực tế, đồng thời giảm rủi ro ban đầu cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, mua sắm công cần bảo đảm cạnh tranh, minh bạch và chất lượng. Không nên biến chính sách hỗ trợ công nghệ trong nước thành cơ chế mặc nhiên chấp nhận sản phẩm chưa đạt yêu cầu. Mục tiêu là tạo cơ hội kiểm chứng và phát triển sản phẩm có năng lực, không phải thay thế đánh giá chất lượng bằng ưu tiên hành chính.

Cuối cùng, hiệu quả thương mại hóa cần được xem xét cả về quy mô thị trường và khả năng tích lũy năng lực công nghệ. Một sản phẩm có doanh thu ban đầu chưa chắc đã tạo ra năng lực tự chủ nếu các thành phần quan trọng vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Ngược lại, một công nghệ được sử dụng trong phạm vi hẹp nhưng giúp hình thành đội ngũ kỹ sư, quy trình thiết kế và khả năng cải tiến có thể đem lại giá trị dài hạn đáng kể.

6. Doanh nghiệp và liên kết viện – trường – thị trường

Tái cấu trúc chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ đạt hiệu quả cao khi doanh nghiệp được đặt vào vị trí phù hợp trong hệ sinh thái nghiên cứu và phát triển.

Trong mô hình truyền thống, tổ chức nghiên cứu thường thực hiện nhiệm vụ theo mục tiêu chuyên môn, sau đó mới tìm kiếm đơn vị tiếp nhận. Cách làm này có thể phù hợp với một số lĩnh vực, nhưng đối với những công nghệ hướng đến thị trường, việc thiếu sự tham gia sớm của doanh nghiệp làm tăng nguy cơ sản phẩm không đáp ứng nhu cầu sử dụng hoặc có chi phí triển khai quá cao.

Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận công nghệ mà còn có thể tham gia xác định bài toán, đồng đầu tư, cung cấp dữ liệu, thử nghiệm và tổ chức sản xuất. Trong khi đó, trường đại học và viện nghiên cứu đóng góp tri thức, nhân lực, thiết bị và năng lực phát triển công nghệ. Tổ chức trung gian hỗ trợ kết nối cung – cầu, định giá công nghệ, tư vấn sở hữu trí tuệ và chuyển giao.

Để mối liên kết này trở thành quan hệ thực chất, cần xây dựng các chương trình theo bài toán cụ thể, có trách nhiệm rõ ràng giữa các bên. Việc lựa chọn nhiệm vụ nên xem xét năng lực của nhóm nghiên cứu, cam kết của đơn vị ứng dụng và phương án phát triển sản phẩm sau nghiên cứu.

Một vấn đề khác là khả năng tham gia của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những doanh nghiệp này có thể sở hữu nhu cầu đổi mới công nghệ lớn nhưng hạn chế về vốn, nhân lực chuyên môn và năng lực đánh giá công nghệ. Các cơ chế hỗ trợ tư vấn, thử nghiệm dùng chung, kết nối chuyên gia và chia sẻ chi phí đổi mới công nghệ có thể giúp mở rộng phạm vi thụ hưởng chính sách.

Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, điều quan trọng là tạo điều kiện tiếp cận kết quả nghiên cứu, hạ tầng thử nghiệm và nguồn lực phát triển sản phẩm. Đồng thời, cần tránh việc hỗ trợ chỉ dừng lại ở thành lập doanh nghiệp hoặc tổ chức sự kiện kết nối, mà phải gắn với tiến độ hoàn thiện công nghệ, năng lực vận hành và khả năng phát triển thị trường.

Đổi mới sáng tạo cũng không giới hạn trong lĩnh vực công nghệ cao. Cải tiến quy trình sản xuất, phương thức quản lý, mô hình cung ứng dịch vụ, giải pháp tiết kiệm năng lượng hay ứng dụng dữ liệu trong hoạt động kinh doanh đều có thể tạo ra giá trị đáng kể. Vì vậy, hệ thống chương trình cần tạo không gian cho các hình thức đổi mới phù hợp với điều kiện và quy mô của từng ngành, từng loại hình doanh nghiệp.

7. Những điều kiện bảo đảm để tái cấu trúc đi vào thực chất

Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm. Quyết định số 1951/QĐ-TTg xác định việc tổ chức thành sáu nhóm nhằm định hướng ưu tiên, tập trung nguồn lực, tăng cường liên thông, theo dõi, đánh giá và điều phối ở quy mô quốc gia; không làm phát sinh loại hình chương trình mới, cấp quản lý trung gian hoặc thủ tục hành chính mới, cũng không thay đổi thẩm quyền theo quy định pháp luật [1].

Nguyên tắc này cần được cụ thể hóa trong quá trình triển khai. Việc tái cấu trúc phải giúp cơ quan quản lý nhận diện rõ trách nhiệm, giảm trùng lặp và rút ngắn quá trình phối hợp, tránh hình thành thêm các tầng nấc báo cáo hoặc những yêu cầu hồ sơ không cần thiết.

Thứ hai, cần đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng kinh phí theo đặc điểm từng nhóm chương trình. Những nhiệm vụ có mục tiêu chiến lược, thời gian dài và rủi ro cao cần có cơ chế quản lý phù hợp, nhưng vẫn phải bảo đảm kỷ luật ngân sách và trách nhiệm giải trình. Việc giải ngân cần gắn với tiến độ chuyên môn, chất lượng sản phẩm trung gian và khả năng hoàn thành mục tiêu đã được thống nhất.

Thứ ba, phải nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý khoa học. Quản trị chương trình lớn đòi hỏi khả năng hiểu công nghệ, phân tích thị trường, đánh giá rủi ro, tổ chức hợp tác liên ngành và giám sát kết quả. Cơ quan quản lý không thể chỉ dựa vào thủ tục hành chính mà cần có đội ngũ chuyên gia đủ năng lực để thẩm định và điều phối.

Thứ tư, cần xây dựng cơ chế đánh giá độc lập, hạn chế xung đột lợi ích và bảo đảm tính minh bạch. Những nhiệm vụ sử dụng nguồn lực lớn hoặc có ý nghĩa chiến lược cần được theo dõi theo các mốc rõ ràng. Kết quả đánh giá phải có khả năng dẫn đến quyết định tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng đầu tư, thay vì chỉ phục vụ tổng kết.

Thứ năm, cần phát triển nguồn nhân lực gắn với nhu cầu thực tế của chương trình. Đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư và nhân lực quản lý công nghệ phải được tham gia xuyên suốt từ nghiên cứu, phát triển đến thử nghiệm và ứng dụng. Hợp tác quốc tế cần hướng tới tiếp thu tri thức, đồng phát triển công nghệ và tăng năng lực của các tổ chức trong nước, thay vì chỉ dừng ở trao đổi học thuật.

Thứ sáu, cần bảo đảm tính kế thừa trong quá trình chuyển đổi. Việc rà soát các chương trình đang triển khai phải xác định rõ nhiệm vụ tiếp tục thực hiện, nhiệm vụ cần điều chỉnh và nhiệm vụ không còn phù hợp. Những kết quả nghiên cứu đã hình thành, các cam kết hợp tác và quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia cần được xử lý theo quy định, tránh gây gián đoạn không cần thiết.

Cuối cùng, cần duy trì sự cân bằng giữa ưu tiên công nghệ chiến lược và phát triển nền tảng khoa học rộng. Một hệ thống quá phân tán sẽ làm giảm khả năng tập trung nguồn lực; nhưng một hệ thống chỉ hướng đến các mục tiêu ngắn hạn cũng có thể làm suy yếu năng lực nghiên cứu dài hạn. Chính sách hiệu quả phải kết hợp được cả hai yêu cầu này.

8. Kết luận: Đo hiệu quả bằng năng lực được tạo ra

Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026–2035 là bước điều chỉnh quan trọng trong cách thức tổ chức nguồn lực khoa học của Việt Nam. Sáu nhóm chương trình tạo ra khuôn khổ để phân định chức năng, tăng cường liên thông và hướng hoạt động nghiên cứu vào những mục tiêu phát triển có ý nghĩa đối với quốc gia.

Tuy nhiên, việc phân nhóm mới chỉ là điều kiện khởi đầu. Hiệu quả thực chất phụ thuộc vào chất lượng thiết kế chương trình, cơ chế phối hợp, phương thức phân bổ ngân sách, năng lực quản trị, sự tham gia của doanh nghiệp và khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị sử dụng.

Một hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiệu quả không chỉ cần tạo ra nhiều đề tài hoặc sản phẩm, mà phải từng bước hình thành năng lực nghiên cứu độc lập, đội ngũ chuyên gia mạnh, công nghệ có khả năng ứng dụng, doanh nghiệp có năng lực làm chủ và cơ chế quản trị dựa trên dữ liệu.

Trong quá trình đó, nghiên cứu cơ bản cần được bảo vệ để tạo nền tảng tri thức dài hạn; nghiên cứu ứng dụng phải gắn với các bài toán thực tế; công nghệ chiến lược cần được phát triển theo chuỗi liên tục; còn đổi mới sáng tạo phải mở ra con đường đưa kết quả nghiên cứu đến với sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.

Từ góc độ phát triển quốc gia, thước đo cuối cùng của tái cấu trúc không nằm ở số lượng chương trình được sắp xếp lại, mà ở năng lực mới được hình thành sau quá trình đầu tư: năng lực sáng tạo tri thức, làm chủ công nghệ, nâng cao năng suất, giải quyết những vấn đề lớn của đất nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nếu những mục tiêu đó được chuyển hóa thành cơ chế vận hành minh bạch, có khả năng điều chỉnh theo kết quả và gắn với trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể, tái cấu trúc sẽ không chỉ là một cuộc sắp xếp về tổ chức, mà còn có thể trở thành động lực thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh và củng cố nền tảng tự chủ công nghệ của Việt Nam trong thập niên tới.

NCS Hà Quang Anh

______________________________________________

Tài liệu tham khảo

  1. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 08/10/2026 phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia giai đoạn 2026–2035”. Thông tin công bố trên Báo điện tử Chính phủ ngày 08/10/2026. https://baochinhphu.vn/tai-cau-truc-cac-chuong-trinh-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-quoc-gia-giai-doan-2026-2035-102261008175745381.htm

  2. Báo điện tử Chính phủ (2026), “Tái cấu trúc chương trình KHCN phải tập trung nguồn lực cho nhiệm vụ lớn của quốc gia”, ngày 11/08/2026. https://baochinhphu.vn/tai-cau-truc-chuong-trinh-khcn-phai-tap-trung-nguon-luc-cho-nhiem-vu-lon-cua-quoc-gia-102260811171310538.htm

  3. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 02/04/2026 phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030. Thông tin công bố trên Báo điện tử Chính phủ ngày 03/04/2026. https://baochinhphu.vn/phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-tro-thanh-dong-luc-chu-yeu-cua-tang-truong-kinh-te-102260403110351512.htm

  4. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 1493/QĐ-TTg ngày 06/08/2026 phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Thông tin công bố trên Báo điện tử Chính phủ ngày 06/08/2026. https://baochinhphu.vn/phe-duyet-chuong-trinh-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-quoc-gia-dac-biet-ve-cong-nghe-chien-luoc-102260806173601633.htm