09/09/2026 lúc 12:07 (GMT+7)
Breaking News

Quan hệ Việt Nam – Pháp: Tin cậy chiến lược, gắn kết lợi ích và hợp tác phát triển

Hơn nửa thế kỷ xây dựng quan hệ ngoại giao đã tạo nền tảng để Việt Nam và Pháp phát triển hợp tác trên cơ sở tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và cùng hướng tới tương lai. Khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện mở ra điều kiện thuận lợi để hai nước tăng cường gắn kết lợi ích, thúc đẩy hợp tác khoa học – công nghệ và phối hợp giải quyết các vấn đề quốc tế. Yêu cầu của giai đoạn mới là cụ thể hóa những định hướng đó thành chương trình, dự án và năng lực phát triển, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.

I. NỀN TẢNG TIN CẬY VÀ NỘI HÀM CỦA QUAN HỆ ĐỐI TÁC

Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973, xác lập quan hệ Đối tác chiến lược năm 2013 đến nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện tháng 10-2024, Việt Nam và Pháp đã trải qua quá trình tích lũy lòng tin và mở rộng hợp tác. Tuyên bố chung năm 2024 khẳng định những nguyên tắc nền tảng, trong đó có việc tôn trọng luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của mỗi nước. Đây là cơ sở để hai bên phát triển quan hệ ổn định, xử lý khác biệt thông qua đối thoại và tăng cường phối hợp trước những vấn đề cùng quan tâm.

Bằng phương pháp phân tích văn kiện kết hợp xem xét một số trường hợp hợp tác, bài viết tiếp cận chiều sâu quan hệ Việt Nam – Pháp qua ba yếu tố: tin cậy chính trị, sự bổ sung về nguồn lực và hiệu quả tổ chức thực hiện. Tin cậy tạo điều kiện duy trì đối thoại; sự bổ sung về nguồn lực mở ra cơ hội gắn kết lợi ích; cơ chế thực hiện giúp chuyển định hướng thành hoạt động cụ thể. Ba yếu tố này tác động qua lại, cùng chi phối chất lượng và tính bền vững của quan hệ.

Việt Nam – Pháp: Củng cố tin cậy chiến lược, tăng cường hợp tác vì lợi ích chung và phát triển bền vững

Về mặt lý luận, tin cậy chính trị có thể góp phần giảm tính bất định trong hợp tác quốc tế. Khi các bên hiểu rõ hơn định hướng và ưu tiên của nhau, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và địa phương có thêm cơ sở xây dựng kế hoạch dài hạn. Tuy nhiên, tác động đó cần được hỗ trợ bằng chính sách nhất quán, thông tin minh bạch và những cơ chế phối hợp có khả năng giải quyết vướng mắc. Vì vậy, mức độ phát triển của quan hệ cần được xem xét đồng thời ở cả định hướng chính trị và điều kiện thực thi.

Tính chiến lược thể hiện ở tầm nhìn đối với những lợi ích lâu dài; tính toàn diện phản ánh phạm vi và sự liên kết giữa các lĩnh vực hợp tác. Chẳng hạn, đào tạo nhân lực có thể hỗ trợ chuyển giao công nghệ, còn đầu tư hạ tầng có thể tạo thêm nhu cầu về dịch vụ, sản xuất và nghiên cứu ứng dụng. Giá trị của khuôn khổ đối tác được phát huy khi những hoạt động này bổ trợ cho nhau, tạo tác động lan tỏa trong nền kinh tế và xã hội.

Theo đó, làm sâu sắc quan hệ hiện nay cần gắn với việc lựa chọn đúng trọng tâm. Những lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn, công nghệ cao hoặc thời gian triển khai dài cần sự ổn định về định hướng, khả năng phối hợp chính sách và cơ chế chia sẻ trách nhiệm. Hợp tác toàn diện vẫn cần được tổ chức theo thứ tự ưu tiên, phù hợp với nguồn lực và nhu cầu của mỗi bên.

Nền tảng xã hội cũng góp phần duy trì sức bền của quan hệ. Tuyên bố chung năm 2024 dành sự quan tâm cho giáo dục, văn hóa, hợp tác địa phương và giao lưu nhân dân. Các mối liên kết giữa cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, trường đại học, tổ chức nghề nghiệp và địa phương có thể được phát huy thông qua nghiên cứu chung, cố vấn chuyên môn, thực tập và kết nối doanh nghiệp. Những chủ thể am hiểu cả hai môi trường văn hóa và chuyên môn vừa góp phần tăng cường hiểu biết, vừa hỗ trợ trao đổi tri thức và tiếp cận thị trường.

II. GẮN KẾT LỢI ÍCH KINH TẾ VỚI NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Hợp tác kinh tế là trụ cột quan trọng để chuyển nền tảng chính trị thành lợi ích phát triển. Cơ cấu trao đổi hàng hóa giữa hai nước có những yếu tố bổ sung, từ sản phẩm công nghiệp chế biến, nông sản của Việt Nam đến máy móc, thiết bị và dược phẩm của Pháp. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) tạo thuận lợi cho tiếp cận thị trường. Khả năng tận dụng cơ hội này phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, việc đáp ứng quy tắc xuất xứ và năng lực tổ chức phân phối của doanh nghiệp.

So với nền tảng chính trị và phạm vi hợp tác, quan hệ kinh tế vẫn còn dư địa phát triển về cả quy mô và chất lượng. Chất lượng ấy có thể được nhận diện qua hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng và mức độ liên kết giữa doanh nghiệp hai nước. Một dự án đầu tư tạo thêm lợi ích khi góp phần đào tạo lao động, phát triển nhà cung ứng và cải thiện quy trình quản trị. Đối với doanh nghiệp Pháp, đối tác địa phương có năng lực cũng giúp củng cố chuỗi cung ứng và khả năng phục vụ thị trường.

Hàng không là lĩnh vực có thể nghiên cứu phát triển theo hướng này. Từ nhu cầu đầu tư đội tàu bay, hợp tác có thể mở rộng sang bảo dưỡng, đào tạo kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ. Do yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và chứng nhận, sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam cần có lộ trình phù hợp. Giá trị dài hạn nằm ở đội ngũ kỹ thuật, năng lực vận hành và hệ thống dịch vụ được hình thành cùng quá trình đầu tư.

Đối với khoa học – công nghệ, năng lực hấp thụ là điều kiện quan trọng để hợp tác tạo hiệu quả. Năng lực này bao gồm khả năng nhận biết giá trị của tri thức mới, tiếp nhận, vận dụng và từng bước cải tiến. Thiết bị hiện đại cần được kết hợp với đội ngũ đủ trình độ, quy trình phù hợp và hoạt động nghiên cứu thường xuyên. Vì vậy, đào tạo nhân lực cần được xác định ngay trong thiết kế chương trình hợp tác công nghệ.

Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, còn gọi là Trường Đại học Việt – Pháp, là một trường hợp đáng chú ý. Được thành lập năm 2009 trong khuôn khổ hợp tác liên chính phủ, trường hướng tới kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và công nghệ. Việc hình thành một cơ sở hợp tác lâu dài tại Việt Nam tạo điều kiện duy trì trao đổi học thuật, phát triển đội ngũ và kết nối các tổ chức nghiên cứu hai nước.

Tháng 5-2025, trường cùng Viện Khoa học Vật liệu và Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp ký biên bản ghi nhớ triển khai dự án nghiên cứu quốc tế HYDROGENE. Dự án hướng tới nghiên cứu sản xuất hydro xanh bằng năng lượng mặt trời, đồng thời chú trọng đào tạo nghiên cứu sinh và phát triển đội ngũ nghiên cứu trẻ.

Trường hợp này gợi mở phương thức hợp tác dựa trên việc cùng xác định nhiệm vụ, tổ chức nghiên cứu và phát triển nhân lực. Giá trị của chương trình cần được xem xét qua kết quả khoa học, chất lượng đào tạo và khả năng ứng dụng. Sự tham gia phù hợp của doanh nghiệp có thể giúp nhóm nghiên cứu tiếp cận nhu cầu thực tế, trong khi môi trường học thuật tạo điều kiện giải quyết những vấn đề đòi hỏi thời gian và tri thức chuyên sâu.

Trong y tế, thỏa thuận hợp tác chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine giữa Sanofi Pasteur và VNVC được trao tháng 5-2025 tạo thêm cơ sở phát triển hợp tác sản xuất. Cùng thời điểm, biên bản ghi nhớ giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Airbus Defence and Space và Cơ quan Vũ trụ Pháp được trao trong lĩnh vực vệ tinh quan sát Trái đất. Các văn kiện này thể hiện hướng mở rộng hợp tác sang những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao.

Từ những trường hợp trên, yêu cầu đặt ra là gắn phạm vi chuyển giao với điều kiện tiếp nhận cụ thể. Trong sản xuất vaccine, đào tạo nhân lực và quản lý chất lượng giữ vai trò thiết yếu. Với công nghệ không gian, hiệu quả ứng dụng phụ thuộc vào sự kết nối giữa thu nhận, xử lý và khai thác dữ liệu. Hợp tác có thể hướng tới các nhu cầu về quản lý tài nguyên, theo dõi môi trường, quy hoạch và phòng, chống thiên tai, tạo cơ hội cho cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp cùng tham gia.

Hạ tầng giao thông thể hiện rõ khả năng phối hợp nguồn vốn và chuyên môn quốc tế. Dự án đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến số 3, đoạn Nhổn – ga Hà Nội có sự tham gia tài trợ của Chính phủ Pháp, Cơ quan Phát triển Pháp, Ngân hàng Phát triển châu Á và Ngân hàng Đầu tư châu Âu. Các doanh nghiệp Pháp tham gia cung cấp đoàn tàu, hệ thống tín hiệu, thiết bị và tư vấn kỹ thuật.

Từ mô hình này, có thể thấy việc đánh giá hợp tác hạ tầng cần bao quát toàn bộ vòng đời dự án. Cùng với chi phí xây dựng là yêu cầu vận hành, bảo trì, kết nối giao thông và tiếp nhận kỹ thuật. Đóng góp đối với chuyển đổi xanh cũng cần được xem xét qua khả năng phục vụ hành khách, sử dụng năng lượng và giảm tác động môi trường. Việc lựa chọn công nghệ, đối tác và phương án tài chính cần dựa trên hiệu quả kinh tế – xã hội và điều kiện thực tế của Việt Nam.

Chiều sâu quan hệ còn thể hiện ở phối hợp về hòa bình, an ninh và các vấn đề khu vực. Tuyên bố chung tháng 5-2025 đề cập hợp tác quốc phòng, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và phòng, chống tội phạm; đồng thời khẳng định việc tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) và giải quyết hòa bình các tranh chấp. Những định hướng này tạo cơ sở tăng cường đối thoại và phối hợp phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cũng trong văn kiện này, hai bên thể hiện sự ủng hộ đối với quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu, ASEAN – Pháp và ASEAN – Liên minh châu Âu. Từ đó, hợp tác song phương có thêm điều kiện gắn với các mạng lưới khu vực. Để phát huy khả năng kết nối, cần hỗ trợ doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu tiếp cận thông tin, tiêu chuẩn, đối tác và dịch vụ logistics, phù hợp với đặc điểm từng thị trường.

III. NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Các trường hợp hợp tác cho thấy hai nước có nhiều nền tảng để phát triển quan hệ trong giai đoạn mới. Yêu cầu tiếp theo là tổ chức thực hiện có trọng tâm. Mỗi chương trình cần xác định rõ mục tiêu, cơ quan đầu mối, nguồn lực và tiến độ, đồng thời duy trì cơ chế xử lý vướng mắc. Với lĩnh vực mới, triển khai thí điểm giúp kiểm nghiệm phương án và tích lũy kinh nghiệm trước khi mở rộng.

Sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu cần bắt đầu từ khâu xác định nhiệm vụ. Nhà nước xây dựng khuôn khổ và hỗ trợ những điều kiện chung; doanh nghiệp tổ chức đầu tư, xác định nhu cầu thị trường; trường đại học, viện nghiên cứu cung cấp tri thức và nhân lực. Mô hình phối hợp này có thể giúp giảm khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng khi trách nhiệm, nguồn lực và lợi ích của các bên được xác định rõ.

Đối với dự án công nghệ, cần thống nhất sớm về phạm vi chuyển giao, sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng dữ liệu và phương thức chia sẻ lợi ích. Sự minh bạch bảo vệ quyền lợi của bên cung cấp, đồng thời giúp bên tiếp nhận chủ động chuẩn bị điều kiện học hỏi và vận hành. Năng lực tự chủ được bồi đắp thông qua khả năng lựa chọn và sử dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài.

Cơ hội tham gia cần được mở rộng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tùy năng lực, doanh nghiệp có thể tham gia sản xuất linh kiện, phát triển phần mềm, cung cấp dịch vụ kỹ thuật hoặc giải pháp ứng dụng. Hoạt động kết nối nên đi cùng tư vấn tiêu chuẩn, đánh giá năng lực và đào tạo, giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của đối tác và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Ở cấp địa phương, hợp tác có thể tập trung vào giao thông công cộng, quản lý nước, bảo tồn di sản và phát triển du lịch. Hiệu quả phụ thuộc vào khả năng điều chỉnh kinh nghiệm quốc tế theo điều kiện sở tại. Việc tổng kết và chia sẻ những mô hình phù hợp sẽ góp phần gắn định hướng hợp tác cấp quốc gia với nhu cầu của cộng đồng.

Tiêu chí đánh giá cần phản ánh đặc thù từng lĩnh vực. Dự án đầu tư cần được xem xét qua tiến độ, hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng việc làm; hợp tác khoa học qua kết quả nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng; giao lưu văn hóa qua khả năng tiếp cận và mức độ gắn kết cộng đồng. Đánh giá định lượng cần kết hợp với xem xét tác động dài hạn, nhất là đối với tri thức và lòng tin.

Trong tiến trình đó, thông tin đối ngoại công bố ngày 5-9-2026 đặt chuyến thăm chính thức Pháp và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong định hướng thúc đẩy hợp tác thực chất. Hoạt động cấp cao được kỳ vọng tạo thêm động lực cho việc cụ thể hóa các ưu tiên song phương, đồng thời mở rộng phối hợp trong công nghệ không gian. Ý nghĩa phát triển của những định hướng này cần tiếp tục được thể hiện qua các chương trình và kết quả triển khai.

Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Pháp được xây dựng trên quá trình tích lũy lòng tin và mở rộng lợi ích chung. Khuôn khổ này tạo điều kiện thuận lợi để kết nối hợp tác chính trị với kinh tế, khoa học – công nghệ, giáo dục và giao lưu nhân dân. Chất lượng phát triển của quan hệ phụ thuộc vào khả năng cụ thể hóa những định hướng đó bằng nguồn lực, trách nhiệm và chương trình phù hợp.

Trọng tâm của giai đoạn mới là tăng cường liên kết giữa các chủ thể, nâng cao hiệu quả dự án và bồi đắp năng lực lâu dài. Khi hợp tác góp phần phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện đời sống người dân, nền tảng lợi ích của quan hệ sẽ ngày càng bền vững. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam và Pháp tiếp tục phối hợp, đóng góp thiết thực cho hòa bình, hợp tác và phát triển ở mỗi khu vực cũng như trên thế giới./.

ThS. Lê Trọng Nghĩa