Sự phát triển nhanh của doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ làm thay đổi cấu trúc thị trường lao động mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức Công đoàn trong việc mở rộng phạm vi hoạt động, nâng cao năng lực đại diện và thích ứng với môi trường lao động hiện đại.
Trong bối cảnh đó, việc triển khai Nghị quyết số 06-NQ/BCH của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về đẩy mạnh phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước đã tạo ra bước chuyển quan trọng cả về nhận thức lẫn hành động. Khu vực ngoài nhà nước không còn chỉ được xem là địa bàn tiềm năng, mà đã trở thành trọng tâm chiến lược trong quá trình phát triển tổ chức Công đoàn giai đoạn mới.

Phát triển đoàn viên tại khu vực ngoài nhà nước đang trở thành động lực quan trọng mở rộng tổ chức Công đoàn trong giai đoạn mới
Sau gần hai năm triển khai nghị quyết, công tác phát triển đoàn viên và thành lập công đoàn cơ sở đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Tính từ năm 2024 đến hết quý I/2026, cả nước phát triển mới hơn 2,2 triệu đoàn viên, nâng tổng số đoàn viên công đoàn lên gần 9,8 triệu người. Riêng khu vực ngoài nhà nước chiếm gần 75% số đoàn viên mới, tương đương khoảng 1,65 triệu người. Những con số này phản ánh rõ xu hướng dịch chuyển của lực lượng lao động vào khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp FDI, đồng thời cho thấy sự chủ động của tổ chức Công đoàn trong việc thích ứng với thay đổi của thị trường lao động.
Diễn biến qua từng giai đoạn cũng cho thấy nhiều điểm đáng chú ý. Năm 2024, năm đầu tiên triển khai nghị quyết, ghi nhận mức tăng trưởng mạnh với hơn 920.000 đoàn viên mới. Đây được xem là giai đoạn tạo nền tảng quan trọng cho việc mở rộng mạng lưới tổ chức trong các năm tiếp theo. Sang năm 2025, tốc độ tăng có sự điều chỉnh sau giai đoạn phát triển cao điểm, song vẫn duy trì được quy mô ổn định. Đến quý I/2026, khu vực ngoài nhà nước tiếp tục phát triển thêm hơn 92.000 đoàn viên mới, cho thấy dư địa mở rộng vẫn còn lớn.
Song hành với phát triển đoàn viên, công tác thành lập công đoàn cơ sở cũng đạt kết quả tích cực với hơn 15.000 đơn vị mới được thành lập, phần lớn tập trung ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Đây là bước tiến quan trọng trong việc mở rộng sự hiện diện của tổ chức Công đoàn trong nền kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy thách thức ngày càng lớn khi nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, phân tán và thường xuyên biến động lao động, khiến việc duy trì tổ chức và tập hợp đoàn viên gặp không ít khó khăn.
Điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai Nghị quyết số 06-NQ/BCH là tư duy phát triển đoàn viên đã có sự thay đổi rõ rệt. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là mở rộng số lượng, thì hiện nay yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng hoạt động, củng cố hiệu quả đại diện và tạo giá trị thực chất cho người lao động. Điều này phản ánh sự chuyển hướng phù hợp với bối cảnh quan hệ lao động ngày càng đa dạng, phức tạp và cạnh tranh hơn.
Một trong những yếu tố tạo nên kết quả tích cực thời gian qua chính là việc chú trọng chăm lo trực tiếp cho đoàn viên và người lao động. Các chương trình như “Tết Sum vầy”, “Tháng Công nhân”, hỗ trợ đoàn viên khó khăn, tổ chức đối thoại và thương lượng tập thể đã góp phần nâng cao vai trò, uy tín của tổ chức Công đoàn tại doanh nghiệp. Thông qua những hoạt động thiết thực, người lao động ngày càng nhận thấy rõ hơn giá trị của việc tham gia công đoàn, không chỉ ở khía cạnh hỗ trợ đời sống mà còn ở vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng.
Trong môi trường lao động cạnh tranh hiện nay, đặc biệt tại khu vực ngoài nhà nước, nơi người lao động có nhiều lựa chọn việc làm và yêu cầu cao hơn về phúc lợi, điều kiện làm việc, việc chăm lo hiệu quả cho đoàn viên trở thành yếu tố quyết định khả năng duy trì sự gắn bó với tổ chức Công đoàn. Đây cũng là nền tảng để phát triển đoàn viên theo hướng bền vững thay vì chỉ tăng nhanh về số lượng.
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình triển khai nghị quyết vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Ở một số địa phương và ngành nghề, tốc độ phát triển đoàn viên chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Việc tiếp cận doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ hoặc doanh nghiệp mới thành lập vẫn là bài toán khó do đặc thù quy mô phân tán, lao động biến động liên tục và tính ổn định chưa cao. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người sử dụng lao động về vai trò của tổ chức Công đoàn còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc thành lập và duy trì hoạt động công đoàn cơ sở.
Sự thay đổi nhanh chóng của thị trường lao động cũng tạo áp lực lớn đối với tổ chức Công đoàn. Xu hướng dịch chuyển việc làm linh hoạt, lao động thời vụ, lao động phi truyền thống và mô hình làm việc mới đang khiến phương thức tập hợp đoàn viên truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế.
Điều này đòi hỏi tổ chức Công đoàn phải đổi mới mạnh mẽ cả về phương thức hoạt động lẫn cách tiếp cận người lao động.
Tác động từ quá trình tinh gọn bộ máy tại một số địa phương cũng ảnh hưởng nhất định đến đội ngũ cán bộ công đoàn, từ đó tác động trực tiếp tới hiệu quả vận động, phát triển đoàn viên. Những khó khăn này cho thấy yêu cầu đổi mới không chỉ nằm ở mục tiêu phát triển đoàn viên mà còn gắn với năng lực tổ chức, khả năng thích ứng và hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống Công đoàn trong bối cảnh mới.
Thực tiễn sau gần hai năm triển khai Nghị quyết số 06-NQ/BCH cho thấy, việc mở rộng tổ chức Công đoàn trong khu vực ngoài nhà nước không thể chỉ dựa vào vận động hành chính hay các chỉ tiêu phát triển đơn thuần. Điều quan trọng hơn là phải tạo được niềm tin và sự gắn bó thực chất từ phía người lao động. Khi quyền lợi được bảo vệ, tiếng nói được lắng nghe và đời sống được quan tâm, người lao động sẽ chủ động tham gia và đồng hành cùng tổ chức Công đoàn.
Trong giai đoạn tới, đổi mới phương thức hoạt động sẽ tiếp tục là yêu cầu mang tính chiến lược. Công đoàn cần tăng cường ứng dụng công nghệ số, đa dạng hóa mô hình tập hợp người lao động, nâng cao chất lượng đối thoại và thương lượng tập thể, đồng thời thích ứng linh hoạt với các mô hình lao động mới. Việc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển đoàn viên với nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn cơ sở sẽ quyết định hiệu quả phát triển bền vững của tổ chức trong thời kỳ mới.
Với nền tảng đã được tạo dựng từ Nghị quyết số 06-NQ/BCH, tổ chức Công đoàn Việt Nam đang có điều kiện mở rộng sâu hơn vào khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời khẳng định rõ hơn vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ người lao động trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là yếu tố quan trọng để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững trong giai đoạn mới./.
Vũ Quang Việt



