Nếu trước đây hoạt động đối ngoại chủ yếu được nhìn nhận như công cụ thực thi chính sách đối ngoại quốc gia thì hiện nay, cùng với xu hướng phân cấp quản trị và phát triển mạng lưới hợp tác xuyên biên giới, ngoại giao địa phương đã trở thành một cấu phần quan trọng của nền ngoại giao toàn diện, góp phần mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường khả năng thích ứng của các địa phương trong môi trường quốc tế nhiều biến động. Đây cũng là xu hướng được nhiều quốc gia vận dụng nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển bền vững, đồng thời bổ trợ cho mục tiêu đối ngoại chung của quốc gia.
Trên phương diện lý luận, sự phát triển của các học thuyết về quản trị đa cấp, ngoại giao kinh tế và quản trị đô thị hiện đại cho thấy chính quyền địa phương không còn chỉ giữ vai trò quản lý hành chính mà đang từng bước trở thành chủ thể tích cực trong việc kiến tạo các mạng lưới hợp tác quốc tế. Đối với các đô thị di sản, lợi thế cạnh tranh không chỉ được hình thành từ giá trị lịch sử, văn hóa hay tài nguyên sẵn có mà ngày càng phụ thuộc vào năng lực kết nối với các trung tâm tri thức, mạng lưới đổi mới sáng tạo và các đối tác phát triển trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, ngoại giao địa phương không đơn thuần là hoạt động giao lưu hữu nghị mà trở thành công cụ chiến lược để thu hút đầu tư, tiếp nhận công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, quảng bá hình ảnh và nâng cao vị thế của địa phương trong chuỗi liên kết khu vực và quốc tế.
Thực tiễn phát triển của nhiều đô thị trên thế giới cho thấy các mô hình hợp tác giữa chính quyền địa phương với các đối tác quốc tế đã tạo ra động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và đổi mới quản trị. Nhiều thành phố di sản tại châu Âu đã thành công trong việc kết hợp bảo tồn giá trị văn hóa với phát triển kinh tế sáng tạo thông qua mạng lưới hợp tác quốc tế, liên kết giữa chính quyền, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, qua đó hình thành hệ sinh thái phát triển dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo. Những kinh nghiệm này khẳng định rằng năng lực hội nhập của địa phương đang trở thành một tiêu chí phản ánh chất lượng quản trị cũng như khả năng khai thác hiệu quả các nguồn lực toàn cầu để phục vụ phát triển dài hạn.
Trong xu thế đó, việc thành phố Huế đẩy mạnh hợp tác với các đối tác của Cộng hòa Áo phản ánh sự chuyển biến từ tư duy đối ngoại truyền thống sang tư duy đối ngoại phục vụ phát triển. Trên nền tảng những điểm tương đồng về định hướng bảo tồn di sản, phát triển đô thị xanh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quan hệ hợp tác giữa hai bên đang mở rộng sang nhiều lĩnh vực như giáo dục và đào tạo, y tế, bảo tồn di sản, du lịch bền vững, chuyển đổi số, quản lý đô thị và đổi mới sáng tạo. Cách tiếp cận này cho thấy hoạt động đối ngoại được đặt trong mối liên hệ hữu cơ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, hướng tới mục tiêu huy động tri thức, công nghệ và nguồn lực quốc tế để nâng cao năng lực phát triển nội sinh.
Trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa khoa học quản trị, nghiên cứu phát triển và quan hệ quốc tế, bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp chính sách, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và nghiên cứu trường hợp để làm rõ vai trò của ngoại giao địa phương trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Từ thực tiễn hợp tác giữa thành phố Huế và các đối tác Áo, bài viết tập trung luận giải luận điểm trung tâm rằng: ngoại giao địa phương nếu được tổ chức theo tư duy chiến lược, gắn kết chặt chẽ với mục tiêu phát triển và cơ chế quản trị hiện đại sẽ trở thành công cụ mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của đô thị, thúc đẩy kết nối tri thức, huy động nguồn lực quốc tế và tạo lập nền tảng cho phát triển bền vững trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng.
NGOẠI GIAO ĐỊA PHƯƠNG - XU HƯỚNG TẤT YẾU CỦA QUẢN TRỊ HIỆN ĐẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1. Sự chuyển dịch từ ngoại giao quốc gia sang mô hình ngoại giao đa tầng
Toàn cầu hóa cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức và mạng lưới liên kết xuyên quốc gia đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc quan hệ quốc tế truyền thống. Nếu trước đây chủ thể trung tâm của hoạt động đối ngoại chủ yếu là nhà nước với các thiết chế ngoại giao chính thức thì trong bối cảnh hiện nay, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và các trung tâm nghiên cứu ngày càng tham gia tích cực vào quá trình kiến tạo quan hệ hợp tác quốc tế. Xu hướng này phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình ngoại giao đơn tầng sang mô hình ngoại giao đa tầng, trong đó các cấp độ quản trị cùng phối hợp nhằm phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia và địa phương.
Dưới góc độ lý luận, quản trị đa cấp được xem là mô hình phân bổ quyền lực và trách nhiệm giữa trung ương với địa phương theo hướng tăng cường tính chủ động và khả năng thích ứng của từng cấp quản trị trước những biến động của môi trường phát triển. Trong bối cảnh đó, ngoại giao địa phương không làm thay đổi vai trò chủ đạo của ngoại giao nhà nước mà trở thành một bộ phận bổ trợ quan trọng, góp phần cụ thể hóa các định hướng đối ngoại thông qua việc huy động nguồn lực, thúc đẩy hợp tác kinh tế, giáo dục, khoa học - công nghệ và giao lưu văn hóa.
Sự phân công này tạo nên mối quan hệ tương hỗ giữa hai cấp độ đối ngoại. Nếu ngoại giao nhà nước giữ vai trò kiến tạo khuôn khổ chính trị, pháp lý và môi trường hợp tác quốc tế ổn định thì ngoại giao địa phương trực tiếp chuyển hóa các khuôn khổ đó thành những chương trình hợp tác cụ thể gắn với nhu cầu phát triển của từng vùng, từng đô thị và từng lĩnh vực. Nhờ vậy, các cam kết hợp tác quốc tế không chỉ dừng ở cấp chính sách mà từng bước được hiện thực hóa thông qua các dự án đầu tư, chương trình đào tạo, hoạt động chuyển giao công nghệ và liên kết phát triển.
Thực tiễn tại nhiều quốc gia phát triển cho thấy chính quyền địa phương đã trở thành một chủ thể quan trọng trong mạng lưới hợp tác quốc tế. Các thành phố lớn chủ động thiết lập quan hệ với các đối tác nước ngoài nhằm thu hút đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, quảng bá hình ảnh và nâng cao năng lực quản trị đô thị. Điều này phản ánh sự thay đổi trong tư duy phát triển khi năng lực hội nhập quốc tế của địa phương ngày càng trở thành một yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu.
2. Ngoại giao địa phương như một công cụ phát triển
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, chức năng của ngoại giao địa phương đã vượt ra ngoài phạm vi giao lưu hữu nghị hay nghi lễ đối ngoại để trở thành công cụ kiến tạo giá trị phát triển. Hiệu quả của hoạt động đối ngoại ngày càng được đánh giá thông qua khả năng tạo ra nguồn lực mới cho tăng trưởng, nâng cao chất lượng quản trị và mở rộng không gian phát triển của địa phương.
Trước hết, ngoại giao địa phương góp phần thu hút đầu tư thông qua việc xây dựng môi trường hợp tác tin cậy và quảng bá tiềm năng phát triển của địa phương tới các đối tác quốc tế. Các hoạt động xúc tiến đầu tư gắn với đối ngoại giúp doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận đầy đủ hơn về môi trường kinh doanh, từ đó thúc đẩy hình thành các dự án đầu tư có chất lượng, phù hợp với định hướng phát triển bền vững.
Bên cạnh nguồn vốn, ngoại giao địa phương còn tạo điều kiện tiếp nhận tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị tiên tiến. Trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, lợi thế cạnh tranh của địa phương không còn chỉ dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ mà phụ thuộc ngày càng lớn vào năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp thu thành tựu khoa học - công nghệ. Các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vì vậy trở thành kênh quan trọng để nâng cao năng lực phát triển nội sinh.
Ngoại giao địa phương đồng thời mở rộng thị trường cho các sản phẩm, dịch vụ và ngành kinh tế đặc thù thông qua mạng lưới hợp tác quốc tế. Đối với các địa phương có lợi thế về văn hóa và du lịch, hoạt động đối ngoại góp phần quảng bá hình ảnh, gia tăng sức hấp dẫn của điểm đến và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, dịch vụ chất lượng cao.
Một chức năng ngày càng được coi trọng là nâng cao thương hiệu địa phương. Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, hình ảnh của một đô thị không chỉ được định hình bởi quy mô kinh tế mà còn bởi năng lực quản trị, mức độ hội nhập và khả năng kết nối quốc tế. Thương hiệu địa phương vì thế trở thành một loại tài sản vô hình có giá trị, góp phần thu hút đầu tư, nhân lực chất lượng cao và các nguồn lực phát triển dài hạn.
Những chuyển biến này cho thấy ngoại giao địa phương đang dịch chuyển từ tư duy thực hiện nhiệm vụ đối ngoại sang tư duy kiến tạo phát triển. Giá trị của hoạt động đối ngoại không chỉ được đo bằng số lượng đoàn công tác hay văn bản ký kết mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa các mối quan hệ quốc tế thành động lực tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng phát triển.
3. Đô thị di sản trong cạnh tranh toàn cầu cần sức mạnh của ngoại giao địa phương
Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, lợi thế cạnh tranh của các đô thị đang được hình thành từ khả năng kết nối với mạng lưới tri thức toàn cầu, năng lực hợp tác quốc tế và sức mạnh đổi mới sáng tạo hơn là chỉ dựa trên quy mô kinh tế hay nguồn lực tự nhiên. Đối với các đô thị di sản, đây là điều kiện quan trọng để giải quyết hài hòa bài toán bảo tồn giá trị truyền thống với yêu cầu phát triển hiện đại.
Nhiều thành phố di sản trên thế giới đã thành công trong việc khai thác sức mạnh của ngoại giao địa phương như một công cụ phát triển. Salzburg của Áo xây dựng hình ảnh thành phố âm nhạc và di sản thông qua mạng lưới hợp tác văn hóa quốc tế, góp phần thúc đẩy du lịch chất lượng cao và công nghiệp sáng tạo. Vienna phát huy lợi thế là trung tâm giáo dục, nghiên cứu và đối thoại quốc tế để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với phát triển đô thị bền vững. Bruges của Bỉ kết hợp bảo tồn kiến trúc lịch sử với phát triển kinh tế dịch vụ và du lịch thông qua các chương trình hợp tác liên vùng của châu Âu. Kyoto của Nhật Bản phát triển mô hình kết hợp giữa bảo tồn di sản với khoa học công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo, tạo nên bản sắc riêng trong quá trình hội nhập quốc tế.
Điểm chung của các mô hình này là coi ngoại giao địa phương như một phương thức mở rộng không gian phát triển thông qua kết nối tri thức, hợp tác nghiên cứu, giao lưu văn hóa và liên kết kinh tế. Thay vì khai thác di sản theo hướng đơn thuần phục vụ du lịch, các đô thị đã chuyển sang xây dựng hệ sinh thái phát triển dựa trên giá trị văn hóa, giáo dục và đổi mới sáng tạo, qua đó tạo ra sức cạnh tranh bền vững.
Nhìn từ góc độ quản trị hiện đại, năng lực thiết lập và vận hành các mạng lưới hợp tác quốc tế đã trở thành một chỉ báo quan trọng phản ánh chất lượng quản trị đô thị. Địa phương có khả năng huy động hiệu quả nguồn lực quốc tế sẽ có điều kiện nâng cao năng lực đổi mới, tăng cường khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường phát triển và tạo dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn. Vì vậy, ngoại giao địa phương không chỉ là hoạt động đối ngoại đơn thuần mà đang trở thành một thành tố của chiến lược phát triển và một động lực quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế.
HỢP TÁC HUẾ - ÁO: TỪ QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI ĐẾN KIẾN TẠO HỆ SINH THÁI PHÁT TRIỂN
1. Tính bổ trợ chiến lược giữa Huế và các đối tác Áo
Quan hệ hợp tác giữa thành phố Huế và các đối tác của Cộng hòa Áo được hình thành trên cơ sở những điểm tương đồng về định hướng phát triển và sự bổ trợ về nguồn lực. Là đô thị di sản mang tầm quốc tế, Huế sở hữu hệ thống giá trị văn hóa đặc sắc, đồng thời là trung tâm giáo dục, y tế chuyên sâu và du lịch của khu vực miền Trung. Trong chiến lược phát triển mới, thành phố định hướng xây dựng mô hình đô thị xanh, đô thị thông minh và phát triển bền vững, lấy tri thức, văn hóa và đổi mới sáng tạo làm nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trong khi đó, Áo được đánh giá là một trong những quốc gia có nhiều kinh nghiệm về bảo tồn di sản gắn với phát triển kinh tế, quản trị đô thị hiện đại, giáo dục ứng dụng và chuyển đổi xanh. Việc kết hợp giữa kinh nghiệm quản trị của các đối tác Áo với tiềm năng phát triển của Huế tạo ra tính bổ trợ rõ nét, mở ra khả năng hợp tác lâu dài trên nhiều lĩnh vực có giá trị gia tăng cao.
Chính sự tương đồng về tầm nhìn phát triển cùng sự khác biệt về lợi thế nguồn lực đã tạo nền tảng để quan hệ hợp tác vượt lên trên các hoạt động giao lưu thông thường, hướng tới xây dựng các chương trình hợp tác thực chất, góp phần nâng cao năng lực quản trị và chất lượng phát triển của đô thị di sản trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
2. Hợp tác Huế - Áo mở rộng không gian phát triển trên nhiều lĩnh vực
Một đặc điểm nổi bật của hợp tác Huế - Áo là được triển khai theo hướng liên ngành, tạo ra chuỗi giá trị phát triển thay vì các hoạt động đơn lẻ.
Trong lĩnh vực giáo dục, việc thúc đẩy liên kết đào tạo, trao đổi sinh viên và giảng viên, hợp tác nghiên cứu khoa học góp phần hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường năng lực hội nhập quốc tế của các cơ sở đào tạo. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế tri thức trong dài hạn.
Ở lĩnh vực y tế, hợp tác chuyên môn, đào tạo cán bộ và chia sẻ kinh nghiệm quản lý tạo điều kiện nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận các thành tựu khoa học và công nghệ y học hiện đại.
Đối với du lịch, việc tăng cường quảng bá quốc tế, phát triển du lịch di sản và du lịch bền vững không chỉ góp phần gia tăng lượng khách mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát huy hiệu quả các ngành công nghiệp văn hóa.
Trong lĩnh vực bảo tồn di sản, kinh nghiệm của Áo về quản trị di sản, phát triển không gian văn hóa và khai thác giá trị kinh tế từ tài sản văn hóa là những bài học có ý nghĩa đối với Huế trong việc hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.
Đối với xây dựng đô thị xanh và đô thị thông minh, hợp tác về chuyển đổi số, quản lý thông minh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững góp phần tạo điều kiện để Huế tiếp cận các mô hình quản trị tiên tiến, nâng cao chất lượng sống và khả năng chống chịu trước các thách thức môi trường.
Nhìn tổng thể, ngoại giao địa phương đang tạo lập mạng lưới liên kết đa lĩnh vực, kết nối chính quyền, cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và đối tác quốc tế trong một hệ sinh thái phát triển có tính tương hỗ cao.
3. Từ ngoại giao sự kiện đến ngoại giao kiến tạo phát triển
Một trong những điểm chuyển biến quan trọng của ngoại giao địa phương hiện nay là sự thay đổi về tư duy và phương thức triển khai. Nếu trước đây các hoạt động đối ngoại chủ yếu tập trung vào giao lưu, thăm hữu nghị và ký kết hợp tác thì ngày nay trọng tâm đang chuyển sang xây dựng các chương trình hợp tác có khả năng tạo ra giá trị phát triển cụ thể.
Thực tiễn hợp tác giữa Huế và các đối tác Áo cho thấy ngoại giao địa phương đang được vận hành theo chuỗi giá trị phát triển, trong đó hoạt động đối ngoại đóng vai trò điểm khởi đầu cho quá trình kết nối tri thức, hình thành các chương trình đào tạo, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương. Đây là cách tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển của các đô thị hiện đại, khi tri thức và mạng lưới hợp tác trở thành nguồn lực chiến lược.
Chuỗi tác động từ ngoại giao đến kết nối tri thức, phát triển nguồn nhân lực, đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư và cuối cùng là phát triển bền vững phản ánh quá trình chuyển hóa nguồn lực quốc tế thành động lực phát triển nội sinh. Giá trị của ngoại giao địa phương vì vậy không chỉ nằm ở việc mở rộng quan hệ đối ngoại mà còn ở khả năng kiến tạo hệ sinh thái phát triển dựa trên sự liên kết giữa chính quyền, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế.
Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các đô thị ngày càng dựa trên chất lượng quản trị và năng lực đổi mới sáng tạo, mô hình hợp tác Huế - Áo cho thấy ngoại giao địa phương hoàn toàn có thể trở thành một công cụ chiến lược để mở rộng không gian phát triển, nâng cao vị thế của đô thị di sản và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng.
ĐỂ NGOẠI GIAO ĐỊA PHƯƠNG TRỞ THÀNH ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA
1. Đổi mới tư duy đối ngoại địa phương theo định hướng phát triển
Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các địa phương ngày càng gắn với khả năng hội nhập và khai thác hiệu quả các nguồn lực quốc tế, đổi mới tư duy đối ngoại theo định hướng phát triển trở thành yêu cầu có ý nghĩa chiến lược. Nếu trước đây hoạt động đối ngoại địa phương chủ yếu hướng đến mục tiêu tăng cường giao lưu hữu nghị và mở rộng quan hệ hợp tác thì hiện nay cần được tiếp cận như một công cụ quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng quản trị và gia tăng năng lực cạnh tranh của địa phương.
Theo cách tiếp cận này, mọi hoạt động đối ngoại cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển dài hạn của địa phương, gắn chặt với các mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyển đổi số và nâng cao vị thế của địa phương trong mạng lưới liên kết khu vực và quốc tế. Ngoại giao địa phương vì vậy không chỉ thực hiện chức năng kết nối mà còn đóng vai trò phát hiện cơ hội phát triển, kiến tạo các chuỗi liên kết mới và huy động nguồn lực phục vụ quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Sự thay đổi về tư duy cũng đòi hỏi phải đổi mới tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động đối ngoại. Thành công không nên được đo lường chủ yếu bằng số lượng đoàn công tác, văn bản ký kết hay các hoạt động giao lưu, mà cần phản ánh thông qua khả năng chuyển hóa các cam kết hợp tác thành những kết quả cụ thể như dự án đầu tư, chương trình đào tạo, hoạt động chuyển giao công nghệ, sáng kiến đổi mới sáng tạo hoặc các giá trị gia tăng cho phát triển kinh tế - xã hội. Chỉ khi tạo ra được những tác động thực chất đối với phát triển, ngoại giao địa phương mới phát huy đầy đủ vai trò là một động lực của hội nhập và phát triển bền vững.
2. Xây dựng cơ chế điều phối liên ngành và hệ sinh thái hợp tác
Hiệu quả của ngoại giao địa phương không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của các thỏa thuận hợp tác mà còn được quyết định bởi năng lực điều phối và tổ chức thực hiện. Thực tiễn cho thấy nhiều chương trình hợp tác quốc tế chưa tạo ra tác động rõ nét do thiếu cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan. Vì vậy, việc xây dựng cơ chế điều phối liên ngành thống nhất cần được xem là một trong những giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại địa phương.
Trước hết, cần hình thành đầu mối điều phối có đủ thẩm quyền để tổng hợp nhu cầu hợp tác, xây dựng kế hoạch triển khai, theo dõi tiến độ thực hiện và đánh giá kết quả của các chương trình hợp tác quốc tế. Song song với đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đối ngoại thống nhất sẽ tạo điều kiện chia sẻ thông tin giữa các sở, ngành và đối tác liên quan, hạn chế tình trạng phân tán nguồn lực và nâng cao hiệu quả khai thác các cơ hội hợp tác.
Một yêu cầu quan trọng khác là thiết lập cơ chế giám sát và đánh giá việc thực hiện các cam kết hợp tác theo hướng gắn với các chỉ số phát triển cụ thể. Điều này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn tạo cơ sở để điều chỉnh chính sách và phân bổ nguồn lực phù hợp với yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn.
Trong bối cảnh đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, việc xây dựng hệ sinh thái hợp tác dựa trên mô hình "ba nhà" (Triple Helix) gồm Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khi được mở rộng thông qua sự tham gia của các đối tác quốc tế, mô hình này sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và hình thành các chuỗi giá trị mới dựa trên tri thức. Đây cũng là hướng tiếp cận đang được nhiều địa phương trên thế giới áp dụng nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và tăng cường khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu.
Đối với Huế, việc thúc đẩy hợp tác giữa chính quyền địa phương với các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp và các đối tác Áo trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di sản và phát triển đô thị xanh sẽ góp phần hình thành hệ sinh thái hợp tác có khả năng lan tỏa tri thức và tạo dựng nền tảng phát triển bền vững trong dài hạn.
3. Gắn ngoại giao địa phương với chiến lược phát triển đô thị di sản bền vững
Đối với các đô thị di sản, hoạt động đối ngoại chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được tích hợp vào chiến lược phát triển tổng thể của địa phương. Ngoại giao địa phương cần trở thành công cụ huy động nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển hài hòa giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Trong điều kiện chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng xanh và thông minh, các chương trình hợp tác quốc tế cần được thiết kế trên cơ sở bảo đảm sự đồng bộ giữa bảo tồn di sản, phát triển du lịch bền vững, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây không chỉ là yêu cầu về quản trị mà còn là điều kiện để nâng cao giá trị của di sản trong bối cảnh kinh tế sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Đối với Huế, việc tăng cường hợp tác với các đối tác Áo trong quản lý đô thị, bảo tồn di sản, giáo dục, công nghệ và phát triển xanh có thể tạo ra những kinh nghiệm và mô hình quản trị mới, góp phần xây dựng đô thị di sản theo hướng hiện đại nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa đặc trưng. Ngoại giao địa phương vì vậy không chỉ đóng vai trò kết nối quan hệ quốc tế mà còn trở thành phương thức tiếp nhận tri thức quản trị tiên tiến và huy động các nguồn lực bên ngoài phục vụ chiến lược phát triển dài hạn.
4. Đầu tư cho năng lực hấp thụ của địa phương
Nguồn lực quốc tế chỉ có thể tạo ra giá trị thực chất khi địa phương có đủ năng lực tiếp nhận, chuyển hóa và khai thác hiệu quả. Vì vậy, cùng với việc mở rộng hợp tác đối ngoại, việc đầu tư nâng cao năng lực hấp thụ của địa phương cần được xác định là một nhiệm vụ mang tính nền tảng.
Trước hết, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, thành thạo ngoại ngữ, am hiểu pháp luật và thông lệ quốc tế, đồng thời có kỹ năng quản trị các chương trình hợp tác đa phương và liên ngành. Đây là lực lượng trực tiếp kết nối, vận hành và hiện thực hóa các cam kết hợp tác thành những chương trình phát triển cụ thể.
Bên cạnh đó, năng lực xây dựng và quản lý dự án quốc tế cần được nâng cao nhằm gia tăng khả năng tiếp cận các nguồn vốn hỗ trợ phát triển, chương trình hợp tác nghiên cứu và các sáng kiến đổi mới sáng tạo. Việc hình thành đội ngũ cán bộ có năng lực thiết kế dự án, quản trị tài chính và đánh giá hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng hợp tác và hạn chế tình trạng phụ thuộc vào hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài.
Đặc biệt, khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ mới có ý nghĩa quyết định trong quá trình chuyển hóa tri thức quốc tế thành động lực phát triển nội sinh. Nếu năng lực hấp thụ còn hạn chế, các hoạt động hợp tác quốc tế dễ dừng lại ở mức độ trao đổi thông tin hoặc ký kết văn bản mà khó tạo ra tác động thực chất đối với phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó, đầu tư cho năng lực hấp thụ không chỉ là giải pháp hỗ trợ hoạt động đối ngoại mà còn là điều kiện tiên quyết để biến các nguồn lực bên ngoài thành nội lực phát triển, góp phần nâng cao sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của địa phương trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
KẾT LUẬN
Trong xu thế toàn cầu hóa và quản trị đa cấp, ngoại giao địa phương đang từng bước khẳng định vai trò là một cấu phần quan trọng của nền ngoại giao toàn diện, đồng thời trở thành công cụ hiệu quả để huy động nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển của mô hình hợp tác giữa các địa phương với các đối tác quốc tế phản ánh xu hướng chuyển dịch từ đối ngoại mang tính hành chính sang đối ngoại kiến tạo phát triển, lấy kết nối tri thức, đổi mới sáng tạo và hợp tác đa lĩnh vực làm nền tảng mở rộng không gian phát triển.
Thực tiễn hợp tác giữa thành phố Huế và các đối tác Áo là minh chứng cho sự chuyển biến đó. Thông qua việc tăng cường liên kết trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo tồn di sản, phát triển đô thị xanh và đổi mới sáng tạo, hoạt động đối ngoại đã từng bước vượt ra ngoài khuôn khổ giao lưu truyền thống để trở thành động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện năng lực quản trị và gia tăng sức cạnh tranh của địa phương. Giá trị cốt lõi của ngoại giao địa phương vì vậy không nằm ở số lượng hoạt động được tổ chức mà ở khả năng kiến tạo hệ sinh thái hợp tác, kết nối hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế nhằm phục vụ chiến lược phát triển dài hạn.
Trong bối cảnh xây dựng đô thị di sản theo hướng xanh, thông minh và bền vững, việc tiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại, hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành, nâng cao năng lực hấp thụ và gắn kết chặt chẽ hoạt động hợp tác quốc tế với chiến lược phát triển địa phương sẽ quyết định hiệu quả của quá trình hội nhập. Thành công của mô hình hợp tác Huế - Áo không chỉ góp phần nâng cao vị thế của đô thị di sản Huế trên trường quốc tế mà còn cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn có giá trị cho việc phát huy vai trò của ngoại giao địa phương như một động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững và chủ động hội nhập của Việt Nam trong giai đoạn mới./.
Ths. Vũ Khắc Tuấn



