24/06/2024 lúc 12:56 (GMT+7)
Breaking News

Nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế

Để đảm bảo hiệu quả xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế của nhân dân lao động ở Việt Nam thời gian tới cần thực hiện đồng bộ trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ các giải pháp, đặc biệt là tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa nội dung của dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế, xây dựng, hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ thống thể chế đảm bảo cũng như nguồn nhân lực phù hợp.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế có nghĩa là “nhân dân làm chủ”[1] trong các hoạt động và quan hệ kinh tế, là kết quả của cuộc cách mạng của giai cấp vô sản với tư cách là “những trận chiến đấu trên tất cả các mặt trận, nghĩa là trên tất cả các vấn đề kinh tế cũng như chính trị … sẽ dẫn tới chỗ lật đổ giai cấp tư sản, dẫn tới nền chuyên chính vô sản, thiết lập chế độ dân chủ toàn vẹn và tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa”[2].

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng, “Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng”[3], dân chủ là “dân làm chủ”[4]. Người khẳng định: “Chế độ kinh tế và xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được xoá bỏ dần, đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ngày càng được cải thiện”[5]. Theo Hồ Chí Minh, “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” [6], “Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân; tổ chức, giáo dục, động viên nhân dân xây dựng cuộc sống mới”[7].

Trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực kinh tế, “phải mạnh dạn phát động quần chúng, làm cho mọi người thấm nhuần tinh thần làm chủ tập thể” [8], “Vai trò của công nhân tham gia quản lý, đó là biểu hiện quyền làm chủ tập thể của công nhân, viên chức trong mọi mặt hoạt động của xí nghiệp. Quyền lợi của công nhân, viên chức gắn liền với sự phát triển của xí nghiệp và kinh doanh có lãi. Từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ việc quản lý kinh tế, làm chủ việc phân phối sản phẩm lao động”[9], “Cán bộ phải tham gia lao động, công nhân phải tham gia quản lý” [10]. Thực hiện dân chủ “chắc chắn ngăn ngừa được những tệ quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí, tham ô”[11].

Từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể hiểu khái quát: xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế là xác lập và thực hiện ngày càng đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân lao động, trước hết là của giai cấp công nhân trong lĩnh vực kinh tế.

2. Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế và nguyên nhân

Trong thời kỳ trước đổi mới, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế được xây dựng và thực hiện chủ yếu thông qua xác lập quyền làm chủ hình thức của nhân dân lao động trong kinh tế thông qua các biện pháp loại bỏ chế độ tư hữu và các thành phần kinh tế gắn với chế độ tư hữu, đảm bảo việc làm cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Tuy nhiên, việc xây dựng và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế bằng cơ chế kế hoạch hóa mệnh lệnh đã không mang lại kết quả tích cực, không thúc đẩy sản xuất phát triển, ngược lại, làm cho người lao động không cảm nhận được quyền làm chủ các điều kiện sản xuất, quá trình sản xuất cũng như kết quả sản xuất, không tạo ra động lực cho nhân dân lao động nói chung, giai cấp công nhân nói riêng hăng hái tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội.

Kể từ khi đổi mới, trên nền tảng chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế đã từng bước được đổi mới gắn với quá trình khôi phục, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh tế không chỉ giới hạn trong các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu như kinh tế nhà nước, tập thể, mà được mở rộng đối với các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong thành phần kinh tế nhà nước, đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhà nước, việc thực hiện các chủ trương của Đảng về đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, việc thể chế hóa của Nhà nước thông qua ban hành và triển khai thực hiện các luật liên quan, đã từng bước đổi mới thực hiện quyền làm chủ của doanh nghiệp và người lao động thông qua đổi mới quan hệ sở hữu, phương thức hoạt động kinh doanh, quan hệ tổ chức quản lý doanh nghiệp, quan hệ phân phối thu nhập và quyền làm chủ của người lao động trong doanh nghiệp. Việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong các doanh nghiệp nhà nước theo hướng thực hiện quyền làm chủ tập thể của các chủ thể trong doanh nghiệp dựa trên đổi mới quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối thu nhập thích ứng với cơ chế thị trường đã góp phẩn phát triển doanh nghiệp nhà nước, củng cố vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

Trong thành phần kinh tế tập thể, việc đổi mới phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa thông qua thực hiện quyền làm chủ tập thể của các thành viên kinh tế tập thể cũng được thực hiện từng bước dựa trên nhận thức sâu sắc hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của kinh tế tập thể trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đảng đã có nhiều chủ trương mới về phát triển kinh tế tập thể trong thời kỳ đổi mới và đã được Nhà nước thể chế hóa bằng các Luật Hợp tác xã cùng các chính sách hỗ trợ phát triển. Nhờ đó, kinh tế tập thể đã được tổ sắp xếp lại, phát triển những hình thức mới, tập trung thực hiện những vai trò then chốt trong quá trình chuyển sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, đặc biệt trong nông nghiệp, thành sản xuất lớn, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong thành phần kinh tế tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, việc từng bước mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế, xã hội theo hướng dân chủ hóa đã tạo thuận lợi cho phát triển các thành phần này với tư cách là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hoạt động theo pháp luật. Trong những năm đổi mới, nhận thức mới về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân thể hiện trong các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đã góp phần đưa kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế. Những đổi mới nhận thức về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần không những thu hút được nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, mà còn góp phần nâng cao trình độ công nghệ, học hỏi kinh nghiệm quản lý kinh doanh hiệu quả trong kinh tế thị trường, giải quyết việc làm, thu nhập cho người lao động, mở rộng thị trường…

Việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong thành phần kinh tế nhà nước và tập thể cùng với mở rộng dân chủ kinh tế trong các thành phần kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài không những góp phần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và không ngừng mở rộng, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, mà còn góp phần không ngừng hoàn thiện nhận thức nội dung và phát huy hiệu quả hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế thông qua thực hiện ngày càng đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước và xu thế hội nhập quốc tế.

Việc nỗ lực vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong thời kỳ đổi mới đã thực sự tạo ra những động lực mới cho phát triển kinh tế nói riêng và phát triển đất nước nói chung. Đánh giá thành tựu phát triển kinh tế -  xã hội qua 35 năm Đổi mới, Đại hội XIII nhận định: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”[12].

Trong bối cảnh kể từ sau Đại hội XIII của Đảng, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; khó khăn, thách thức mới xuất hiện, gay gắt, nặng nề hơn so với dự báo, cũng như so với cùng kỳ của một số nhiệm kỳ gần đây, đất nước vẫn “cơ bản thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ: Vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh; vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và hiệu quả”, “Việt Nam là một điểm sáng "trong bức tranh xám màu" của kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế năm 2021 đạt 2,56%, trong khi nhiều nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng âm; tăng trưởng kinh tế năm 2022 đạt 8,02%, cao hơn nhiều so với kế hoạch 6 - 6,5%, và là mức tăng cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới”[13]; tăng trưởng GDP năm 2023 ước đạt 5,05%[14].

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, cho đến nay trong xây dựng và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế vẫn còn không ít bất cập: (1) Dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế chưa được xác định rõ ràng, đặc biệt chưa phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn thực hiện quyền làm chủ tập thể về kinh tế đối với từng vị trí việc làm trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Hậu quả là một bộ phận cán bộ lãnh đạo, trong đó có người đứng đầu trong doanh nghiệp nhà nước, đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý kinh tế, gây tổn thất, lãng phí và đặc biệt là thất thoát lớn về tài sản thuộc sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, trong khi đó công tác giám sát, kiểm soát quyền lực kinh tế còn mờ nhạt, chậm hoặc không phát hiện ra những sai phạm đó. (2) Mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ tập thể về kinh tế và dân chủ kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được nhận thức rõ ràng, dẫn tới những khó khăn trong thực hiện trong thực tiễn. Những hạn chế kể trên có nhiều nguyên nhân, trong đó đặc biệt là những nguyên nhân từ các rào cản về nhận thức, thể chế và phương thức thực hiện.

Về nhận thức, cho đến nay về lý luận vẫn chưa thật sự làm rõ đặc thù và nội dung của dân chủ xã hội chủ nghĩa trong kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung và trong từng chặng đường của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nói riêng, cũng như mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dẫn đến chưa xác định rõ phạm vi, nội dung cần thực hiện để đảm bảo dân chủ xã hội chủ nghĩa trong kinh tế cũng như quyền làm chủ của nhân dân lao động trong các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu và trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung.

Những rào cản về nhận thức cùng với sự phát triển ngày càng sâu rộng của các quan hệ thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang làm cho hệ thống thể chế đảm bảo dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân lao động cần phải được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện. Rào cản đối với thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân lao động không chỉ thể hiện trong hệ thống thể chế chính thức do Nhà nước ban hành dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật, mà còn thể hiện trong hệ thống thể chế phi chính thức, biểu hiện thông qua ảnh hưởng không nhỏ của các tập quán, thói quen không dễ sửa trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật, từ đó trở thành trở lực đối với việc xác lập hệ thống thể chế hiệu quả để đảm bảo dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân lao động trong kinh tế ở Việt Nam.

Với nhận thức chưa đầy đủ và hệ thống thể chế chưa hoàn thiện, phương thức thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân lao động trong kinh tế chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các yếu tố tự phát, chủ quan dưới tác động của lợi ích cá nhân. Phương thức thực hiện đó làm cho việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân lao động trong kinh tế nhiều khi chỉ mang tính hình thức, vừa không phát huy được trí tuệ và sự năng động sáng tạo của tập thể người lao động, vừa tạo khe hở cho một số cán bộ có chức, có quyền lợi dụng quyền lực kinh tế mà nhân dân giao phó để trục lợi cá nhân, không góp phần phát huy vai trò động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân lao động trong kinh tế, mà ngược lại làm cho người lao động trở thành vô chủ, không thiết tha với việc bảo vệ, phát triển sở hữu toàn dân với tư cách là cơ sở để gia tăng lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội.

3. Một số kiến nghị, đề xuất giải pháp về nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế

Từ trình bày, phân tích thực trạng dân chủ xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở Việt Nam qua gần 40 năm đổi mới, những giải pháp chủ yếu cần thực hiện trong nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế bao gồm:

Thứ nhất, vẫn cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ nội hàm của dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân lao động về kinh tế trong bối cảnh mới, trước hết đối với các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu và sau đó là trong toàn bộ nền kinh tế. Kết quả của nghiên cứu đó phải tạo cơ sở khoa học cho xác định cụ thể vị trí của từng chủ thể trong các thành phần kinh tế nhà nước và tập thể với tư cách là những cấp độ thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong quan hệ sở hữu các yếu tố sản xuất, tổ chức quản lý và thực hiện hoạt động sản xuất, thực hiện và phân phối giá trị kết quả sản xuất và thu nhập, cùng với việc nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo căn cứ cho xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế phù hợp với trình độ phát triển hiện tại của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, kết quả nghiên cứu khoa học làm rõ về lý luận về nội hàm cụ thể của dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong kinh tế cùng mối quan hệ với dân chủ kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải được sử dụng trong công tác tuyên truyền, trở thành nội dung quan trọng cần quán triệt ở mọi cấp độ để mọi cán bộ, đảng viên, người lao động nắm vững nội dung thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động về kinh tế trong mối quan hệ với dân chủ kinh tế.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế. Để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong kinh tế rất cần có khung khổ thể chế rõ ràng, đặc biệt trước hết là hệ thống thể chế chính thức dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Hệ thống thể chế hiện tại đã hướng tới thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động song do nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động chưa thống nhất, những thể chế mềm như tập quán thói quen được sinh ra bởi sản suất nhỏ đang ảnh hưởng tiêu cực đến thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động như rất khó loại bỏ nhanh chóng, do đó, cần hoàn thiện hệ thống thể chế đảm bảo dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động theo lộ trình từng bước, gắn với mở rộng dân chủ kinh tế theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong hoàn thiện thể chế đảm bảo phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong kinh tế rất cần phải không những xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển, từ tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, mà còn phải nghiên cứu, chắt lọc những tinh hoa của nhân loại đã đạt được trong mở rộng dân chủ kinh tế có kiểm soát trong phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế.

Việc hoàn thiện thể chế đảm bảo dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trước hết phải tập trung vào những điểm nghẽn trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động đối với các tài sản thuộc sở hữu toàn dân, đặc biệt là những tài sản đang được sử dụng trong các doanh nghiệp nhà nước. Hệ thống thể chế không chỉ bao gồm những quy định mang tính khung khổ, mà còn phải đảm bảo hệ thống kích thích thực thi và tính minh bạch trong thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động thông qua cơ chế tăng cường giám sát từ phía đại diện thực sự của sở hữu toàn dân.

Thứ tư, tiếp tục phát triển nguồn nhân lực, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân lao động. Để thực thi hiệu quả hệ thống thể chế chính thức đảm bảo dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động cần phải có những chủ thể đủ năng lực xây dựng, thực thi từ mọi cấp độ, trong đó ban đầu là tạo lập đội ngũ cán bộ đủ trình độ, năng lực nghiên cứu làm rõ nội hàm của dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiếp đó là đội ngũ đủ năng lực để xây dựng hệ thống thể chế thực hiện và cuối cùng là các chủ thể thực thi thể chế.

Nhóm nhân lực làm công tác nghiên cứu khoa học, phát triển nhận thức đầy đủ về dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong kinh tế là nhóm nhân lực trình độ cao và nhóm nhân lực  xây dựng hệ thống thể chế thực hiện cần được quan tâm phát triển hàng đầu. Trong đào tạo bồi dượng đội ngũ này phải tuyệt đối “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[15].

Nhóm nhân lực thực thi thể chế bao gồm nhân lực quản lý và các chủ thể tham gia thực hiện, cần tập trung phát triển theo Đại hội XIII của Đảng: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[16].

Tóm lại, từ nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế có thể khẳng định, việc xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế là quá trình tất yếu, có vai trò đặc biệt quan trọng trong tạo động lực kinh tế cho xây dựng chủ nghĩa xã hội, song đó cũng là công việc vô cùng phức tạp, có thể phải thực hiện từng bước, lâu dài. Để đảm bảo hiệu quả xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế của nhân dân lao động ở Việt Nam thời gian tới cần thực hiện đồng bộ trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ các giải pháp, đặc biệt là tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa nội dung của dân chủ xã hội chủ nghĩa về kinh tế, xây dựng, hoàn thiện và thực thi hiệu quả hệ thống thể chế đảm bảo cũng như nguồn nhân lực phù hợp. Đó là công việc lớn của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn dân dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

PGS.TS Đoàn Xuân Thủy

Thư ký KH Hội đồng LLTW

Tài liệu tham khảo

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, HN, 2021, Tập 1
  2. V.I.Lênin, Toàn Tập, Nxb CTQH, H., 2006, Tập 54
  3. C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H., 1995, Tập 19.
  4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 7, 10, 12, 13, 15
  5. Nguyễn Phú Trọng, Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khắn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2023.
  6. https://www.gso.gov.vn/bai-top/2023/12/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2023/

[1] C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H., 1995, Tập 19, tr.44-45.

[2] V.I.Lênin, Toàn Tập, Nxb CTQH, H., 2006, Tập 54, tr.592

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 7, tr.362

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 10, tr.572

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 12, tr.376

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 15, tr. 326-327

[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 13, tr.454

[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 15, tr. 326-327

[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 15, tr.682

[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 12, tr.147

[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H., 2011, Tập 15, tr. 326-327

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, HN, 2021, Tập 1, tr. 103-104

[13] Nguyễn Phú Trọng, Cả nước đồng lòng, tranh thủ mọi thời cơ, vượt qua mội khó khắn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2023, tr.125

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, HN, 2021, Tập 1, tr.110

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG, HN, 2021, Tập 1, tr.203-204.

...