Nhìn từ những yêu cầu đặt ra trong nhiệm kỳ Đại hội XI, có thể thấy đổi mới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không chỉ là đổi mới về tổ chức, bộ máy hay phương thức phối hợp giữa các tổ chức thành viên, mà sâu xa hơn là đổi mới cách thức Mặt trận hiện diện trong đời sống Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Mặt trận cần tiếp tục củng cố phương thức hoạt động để trở thành một thiết chế của niềm tin, một không gian thực hành dân chủ, một kênh đại diện có trách nhiệm và một lực lượng đồng hành thiết thực với Nhân dân trong những vấn đề cụ thể của đời sống xã hội.
Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển”, Đại hội XI đặt ra yêu cầu nâng cao vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phát huy dân chủ, truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đây không chỉ là phương châm của một nhiệm kỳ, mà còn là sự khái quát về vai trò mới của Mặt trận trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Đáng chú ý, quá trình chuẩn bị Đại hội XI cũng gắn liền với những chuyển động lớn về thể chế, trong đó có việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013 liên quan đến vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Khi Hiến pháp và pháp luật tiếp tục làm rõ hơn vị trí, vai trò của Mặt trận; khi Đại hội XI đặt ra yêu cầu đoàn kết, dân chủ, đổi mới, sáng tạo, phát triển; khi chuyển đổi số mở ra những phương thức mới để lắng nghe và kết nối xã hội, thì Mặt trận càng phải tự làm mới mình để không chỉ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, mà còn là nơi hội tụ trí tuệ, ý chí, khát vọng và trách nhiệm của các tầng lớp Nhân dân đối với vận mệnh đất nước.
1. Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn lực phát triển
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là truyền thống quý báu, là cội nguồn sức mạnh đưa dân tộc vượt qua những thử thách lớn lao. Nhưng trong giai đoạn phát triển mới, đại đoàn kết không chỉ là truyền thống, mà còn là nguồn lực phát triển.
Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững không thể chỉ dựa vào nguồn lực vật chất, vốn đầu tư, tài nguyên hay công nghệ. Những yếu tố ấy rất quan trọng, nhưng chưa đủ. Sự phát triển của một đất nước còn cần đến niềm tin xã hội, sự đồng thuận của Nhân dân, khát vọng chung của dân tộc, tinh thần trách nhiệm của từng công dân và khả năng quy tụ các giai tầng xã hội vào những mục tiêu lớn.
Ở đây, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt. Mặt trận là nơi tập hợp rộng rãi các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, giới trí thức, doanh nhân, phụ nữ, thanh niên, người cao tuổi, người Việt Nam ở nước ngoài và các tổ chức thành viên. Chính sự rộng lớn ấy tạo nên một không gian chính trị - xã hội đặc biệt, nơi các tiếng nói khác nhau có thể gặp gỡ, cùng hướng về lợi ích chung của quốc gia, dân tộc.
Trong xã hội hiện đại, đời sống Nhân dân ngày càng phong phú, nhu cầu, lợi ích và kỳ vọng của các nhóm xã hội ngày càng đa dạng. Người công nhân quan tâm đến việc làm, thu nhập, phúc lợi, điều kiện lao động. Người nông dân quan tâm đến sinh kế, thị trường, đất đai, môi trường và chuyển đổi sản xuất. Thanh niên quan tâm đến cơ hội lập nghiệp, sáng tạo, tham gia vào đời sống số. Phụ nữ quan tâm đến bình đẳng, việc làm, gia đình, chăm sóc trẻ em và an toàn xã hội. Người cao tuổi quan tâm đến an sinh, sức khỏe, vai trò trong gia đình và cộng đồng. Đồng bào dân tộc, tôn giáo, kiều bào ở nước ngoài cũng có những tâm tư, nguyện vọng, đóng góp và kỳ vọng riêng.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam muốn làm tốt vai trò đại đoàn kết thì phải nhận diện được sự đa dạng đó, tôn trọng sự đa dạng đó và tìm được điểm tương đồng để quy tụ sức mạnh xã hội. Điểm tương đồng lớn nhất chính là lòng yêu nước, khát vọng phát triển đất nước, mong muốn cuộc sống của Nhân dân ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc, xã hội ngày càng công bằng, dân chủ, văn minh.
Vì vậy, trong giai đoạn mới, đại đoàn kết không thể chỉ được hiểu là sự tập hợp về mặt tổ chức. Đại đoàn kết phải trở thành năng lực kết nối xã hội, năng lực tạo đồng thuận, năng lực khơi dậy sáng kiến của Nhân dân, năng lực huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển. Đó cũng là lý do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải đổi mới mạnh mẽ hơn phương thức hoạt động, để thật sự trở thành trung tâm quy tụ trí tuệ, ý chí và trách nhiệm của các tầng lớp Nhân dân.
2. Dân chủ là phương thức khơi dậy trí tuệ và trách nhiệm xã hội của Nhân dân
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, dân chủ không chỉ là nguyên tắc chính trị, mà còn là phương thức để khơi dậy trí tuệ, sáng kiến và trách nhiệm xã hội của Nhân dân.
Dân chủ không chỉ là để người dân được nói, mà còn là để tiếng nói của người dân được lắng nghe, được tôn trọng, được tổng hợp, được phản ánh và được chuyển hóa vào quá trình xây dựng chính sách. Một nền dân chủ thực chất phải làm cho người dân cảm thấy mình là chủ thể của đời sống chính trị - xã hội, chứ không phải người đứng ngoài các quyết sách lớn.
Trong tiến trình thực hiện dân chủ hóa xã hội ấy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong quá trình tổ chức, tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân, là kênh phản ánh thông tin để người dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng pháp luật và là cầu nối giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Việc hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổng hợp hàng trăm nghìn ý kiến góp ý của Nhân dân vào các văn kiện, chính sách, pháp luật quan trọng cho thấy vai trò rất rõ của Mặt trận trong việc tập hợp, chắt lọc và chuyển tải trí tuệ xã hội. Mỗi ý kiến của người dân, dù lớn hay nhỏ, đều chứa đựng một phần trải nghiệm đời sống, một mối quan tâm, một kỳ vọng, một cách nhìn từ thực tiễn. Khi ý kiến nhân dân được tập hợp lại một cách nghiêm túc, đó chính là nguồn chất liệu quý báu để chính sách sát hơn với cuộc sống.
Bên cạnh đó, điều quan trọng không chỉ dừng lại ở việc thu thập ý kiến, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải làm tốt hơn vai trò phân tích, tổng hợp, phản ánh, kiến nghị và theo dõi quá trình giải quyết. Dân chủ sẽ không đầy đủ nếu người dân nói nhưng không biết tiếng nói của mình đi đâu, được tiếp thu thế nào, cơ quan nào giải quyết, kết quả ra sao. Vì vậy, cùng với việc mở rộng kênh lắng nghe, cần tăng cường cơ chế phản hồi để người dân thấy được trách nhiệm của hệ thống chính trị đối với những điều họ góp ý, kiến nghị.
Trong xã hội hiện đại, dân chủ cũng cần được thực hiện bằng những phương thức mới bên cạnh các hình thức truyền thống như hội nghị Nhân dân, tiếp xúc cử tri, đối thoại trực tiếp, sinh hoạt khu dân cư, vị vậy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy mạnh hơn các nền tảng số, các kênh tương tác trực tuyến, các diễn đàn xã hội để lắng nghe rộng hơn, nhanh hơn và thường xuyên hơn.
Những định hướng như Mặt trận số, tiếp nhận kiến nghị 24/7, “Tháng nghe dân nói”, bộ chỉ số niềm tin xã hội, “3 công khai - 3 giám sát” đã và đang thực hiện cho thấy tư duy mới của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hành dân chủ một cách mạnh mẽ và đi vào thực chất. Người dân không chỉ là đối tượng tuyên truyền, vận động, mà còn là chủ thể tham gia, phản ánh, giám sát, hiến kế và đồng hành cùng Mặt trận trong giải quyết các vấn đề của cộng đồng. Khi người dân được tham gia thực chất hơn, được phản hồi kịp thời hơn, được giám sát minh bạch hơn, dân chủ sẽ không còn là khái niệm xa xôi, mà trở thành kinh nghiệm sống hằng ngày của Nhân dân trong quan hệ với hệ thống chính trị.
3. Đại diện Nhân dân phải gắn với trách nhiệm đến cùng
Một trong những chức năng rất quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Nhưng đại diện không phải là nói thay một cách hình thức. Đại diện là lắng nghe đúng, hiểu đúng, phản ánh đúng và bảo vệ đúng quyền lợi chính đáng của Nhân dân.
Trong thực tiễn, người dân hiện nay quan tâm đến rất nhiều vấn đề cụ thể: việc làm, thu nhập, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, môi trường, an toàn thực phẩm, nhà ở, giao thông, trật tự xã hội, phòng chống tội phạm, phòng chống lừa đảo trên không gian mạng, chất lượng phục vụ của chính quyền cơ sở, quyền làm chủ ở cộng đồng. Những vấn đề ấy nếu không được lắng nghe và giải quyết kịp thời có thể làm suy giảm niềm tin xã hội.
Vì vậy, Mặt trận gần dân không chỉ là Mặt trận có mặt ở cơ sở. Gần dân là nhìn thấy sớm những lo lắng của dân, nghe được những điều dân đang băn khoăn, nhận diện được những vấn đề xã hội đang tích tụ và tham gia giải quyết từ sớm, từ xa, từ cơ sở.
Đại diện Nhân dân cũng có nghĩa là phải đưa được tiếng nói của Nhân dân vào quá trình xây dựng pháp luật, hoạch định chính sách và tổ chức thực thi chính sách. Pháp luật là nơi thể chế hóa quyền lợi của người dân. Nếu quá trình xây dựng pháp luật có tiếng nói của Nhân dân, có sự phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, người có kinh nghiệm thực tiễn và những nhóm xã hội chịu tác động trực tiếp, thì chính sách sẽ sát thực tiễn hơn, công bằng hơn và khả thi hơn.
Một chính sách tốt không chỉ đúng về kỹ thuật lập pháp, mà còn phải phù hợp với đời sống, bảo đảm quyền lợi của các nhóm xã hội, nhất là người yếu thế, người nghèo, người lao động, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số, người ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Do đó, đại diện Nhân dân phải đi cùng trách nhiệm theo dõi, giám sát, đôn đốc và phản hồi. Người dân không chỉ cần Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lắng nghe, mà còn cần Mặt trận theo đến cùng những vấn đề chính đáng của họ. Đây chính là thước đo quan trọng của một Mặt trận có trách nhiệm.
4. Giám sát, phản biện xã hội là cách làm cho chính sách gần dân hơn
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, giám sát, phản biện xã hội không chỉ là chức năng của Mặt trận, mà còn là cách để chính sách gần dân hơn, quyền lực được kiểm soát tốt hơn, niềm tin xã hội được bồi đắp bền vững hơn.
Phản biện xã hội không phải là góp ý sau cùng, càng không phải là thủ tục để hoàn tất hồ sơ chính sách. Phản biện xã hội đúng nghĩa phải tham gia từ sớm, từ xa, khi chính sách còn đang hình thành. Phản biện phải nhìn chính sách từ đời sống của người dân, từ tác động thực tế đến từng nhóm xã hội, từng cộng đồng, từng địa phương.
Nếu phản biện xã hội chỉ dừng ở hội nghị, ghi nhận ý kiến rồi kết thúc bằng báo cáo, thì chưa đủ. Điều quan trọng là sau phản biện, các kiến nghị có được tiếp thu không, có được giải trình không, có được điều chỉnh trong chính sách không, có được theo dõi trong quá trình thực hiện không. Vì vậy, giám sát, phản biện xã hội phải có cơ chế theo đến cùng kết quả giải quyết kiến nghị.
Giám sát cũng không chỉ là phát hiện sai phạm. Giám sát còn là để chính sách được thực hiện đúng mục tiêu, đúng đối tượng, đúng tinh thần vì dân. Giám sát giúp phát hiện những bất cập trong thực thi, những điểm nghẽn trong bộ máy, những khoảng cách giữa văn bản và đời sống. Qua đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp phần làm cho chính sách không chỉ đúng trên giấy, mà đúng trong thực tiễn.
Để giám sát, phản biện có chất lượng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phát huy mạnh hơn vai trò của các hội đồng tư vấn, chuyên gia, nhà khoa học, nhân sĩ, trí thức, doanh nhân, người có uy tín trong cộng đồng và chính người dân chịu tác động trực tiếp của chính sách. Một chính sách về công nhân cần có tiếng nói của công nhân. Một chính sách về nông nghiệp cần có tiếng nói của nông dân. Một chính sách về phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người yếu thế cần có tiếng nói của chính những nhóm xã hội ấy.
Khi Mặt trận tập hợp được các tiếng nói đó, phản biện xã hội sẽ có chiều sâu hơn, khách quan hơn và có sức thuyết phục hơn. Đó cũng là cách để phát huy dân chủ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
5. Mặt trận số và yêu cầu hiện đại hóa phương thức lắng nghe Nhân dân
Quá trình chuyển đổi số có tính toàn diện hiện nay đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị xã hội, phương thức giao tiếp giữa Nhà nước với người dân và cả cách người dân bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình. Trong bối cảnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng phải đổi mới phương thức lắng nghe và kết nối xã hội.
Mặt trận số không chỉ là số hóa văn bản, tổ chức họp trực tuyến hay quản lý cơ sở dữ liệu. Mặt trận số phải được hiểu sâu hơn là một phương thức mới để mở rộng dân chủ, nâng cao năng lực đại diện, tăng cường khả năng phản hồi và làm cho mối liên hệ giữa Mặt trận với Nhân dân trở nên thường xuyên, sống động hơn.
Cổng tiếp nhận kiến nghị 24/7, các nền tảng tương tác trực tuyến, việc nắm bắt dư luận xã hội trên không gian mạng, bộ chỉ số niềm tin xã hội, các công cụ đo lường sự hài lòng của người dân… nếu được vận hành tốt sẽ giúp Mặt trận lắng nghe Nhân dân rộng hơn, nhanh hơn, có căn cứ hơn. Công nghệ không thay thế được cán bộ Mặt trận ở cơ sở, nhưng có thể hỗ trợ cán bộ làm việc chuyên nghiệp hơn. Dữ liệu không thay thế được sự tinh tế trong tiếp xúc với dân, nhưng có thể giúp nhận diện xu hướng xã hội, phát hiện sớm những vấn đề mới nảy sinh và tham mưu chính sách chính xác hơn.
Trong xã hội hiện nay, nhiều vấn đề xã hội xuất hiện rất nhanh trên không gian số. Một bức xúc của người dân, một sự việc ở cơ sở, một vấn đề trong thực thi chính sách, một nguy cơ lừa đảo, một mâu thuẫn cộng đồng có thể lan truyền rất nhanh. Nếu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chậm nắm bắt, chậm phản ánh, chậm tham gia xử lý, thì sẽ khó phát huy vai trò cầu nối của mình trong đời sống xã hội hiện đại.
Vì vậy, gần dân trong giai đoạn mới không chỉ là gần khu dân cư, gần thôn xóm, gần tổ dân phố, mà còn phải gần không gian số. Ở đó có những tiếng nói rất thật của người dân, có những lo lắng, kỳ vọng, sáng kiến, phản biện và cả những bức xúc cần được lắng nghe, phân tích, định hướng và giải quyết.
Một Mặt trận hiện đại là Mặt trận biết kết hợp giữa tiếp xúc trực tiếp với tương tác số, giữa kinh nghiệm dân vận truyền thống với năng lực phân tích dữ liệu, giữa sự sâu sát cơ sở với khả năng phản hồi nhanh trên không gian mạng. Hiện đại không có nghĩa là xa dân hơn, mà phải giúp Mặt trận gần dân hơn bằng những phương thức mới.
6. Không hành chính hóa Mặt trận
Một trong những yêu cầu rất quan trọng trong giai đoạn mới là không hành chính hóa Mặt trận. Đây là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc. Bởi nếu Mặt trận chỉ vận hành như một cơ quan hành chính với hội họp, văn bản, báo cáo, phong trào hình thức, thì sẽ khó giữ được vai trò là cầu nối sống động giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Công tác Mặt trận không thể chỉ được đo bằng số lượng hội nghị, văn bản, kế hoạch hay báo cáo tổng kết. Điều quan trọng hơn là người dân được hưởng lợi gì, cộng đồng thay đổi ra sao, vấn đề nào được giải quyết, niềm tin xã hội được củng cố như thế nào.
Đổi mới Mặt trận vì vậy không thể chỉ là đổi mới cơ cấu, mà phải là đổi mới phong cách, phương pháp và trách nhiệm phục vụ Nhân dân. Mặt trận cần chuyên nghiệp hơn nhưng không quan liêu hơn; hiện đại hơn nhưng không xa dân hơn; có dữ liệu hơn nhưng không đánh mất sự tinh tế trong lắng nghe đời sống; có nền tảng số hơn nhưng không thay thế sự hiện diện của cán bộ ở cơ sở.
Cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới phải là người gần dân, gần cơ sở, gần không gian số. Phải biết lắng nghe, biết đối thoại, biết làm mẫu, biết chịu trách nhiệm và biết báo cáo kết quả với Nhân dân. Một cán bộ Mặt trận tốt không chỉ là người biết triển khai phong trào, mà còn là người biết phát hiện vấn đề; không chỉ biết tổng hợp báo cáo, mà còn biết chuyển tiếng nói của dân thành kiến nghị có giá trị; không chỉ làm cho xong việc, mà phải làm đến nơi đến chốn.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam càng đổi mới, càng phải giữ được bản chất nhân dân của mình. Cái gốc của công tác Mặt trận là sự tin cậy của Nhân dân. Niềm tin ấy không được tạo nên bằng khẩu hiệu, mà bằng hành động cụ thể, bằng sự có mặt đúng lúc, bằng thái độ lắng nghe chân thành, bằng khả năng phản ánh trung thực và bằng trách nhiệm theo đuổi đến cùng quyền lợi hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
Kết luận
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là truyền thống quý báu, mà còn là nguồn lực phát triển. Dân chủ không chỉ là nguyên tắc chính trị, mà còn là phương thức để khơi dậy trí tuệ, sáng kiến và trách nhiệm xã hội của Nhân dân. Giám sát, phản biện xã hội không chỉ là chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mà còn là cách để chính sách gần dân hơn, quyền lực được kiểm soát tốt hơn, niềm tin xã hội được bồi đắp bền vững hơn.
Khi Hiến pháp và pháp luật tiếp tục xác định hơn vị trí, vai trò của Mặt trận, khi Đại hội XI đặt ra yêu cầu đoàn kết, dân chủ, đổi mới, sáng tạo, phát triển, khi chuyển đổi số mở ra những phương thức mới để lắng nghe và kết nối xã hội, thì Mặt trận càng phải tự làm mới mình để không chỉ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, mà còn là nơi hội tụ trí tuệ, ý chí, khát vọng và trách nhiệm của các tầng lớp Nhân dân đối với vận mệnh đất nước.
Một Mặt trận mạnh là Mặt trận biết dựa vào dân, tin dân, hiểu dân và làm cho dân tin. Một Mặt trận hiện đại là Mặt trận biết sử dụng công nghệ, dữ liệu, phương thức quản trị mới để phục vụ tốt hơn quyền làm chủ của Nhân dân. Một Mặt trận có uy tín là Mặt trận không né tránh những vấn đề khó, không dừng lại ở lời nói, không hành chính hóa mình, mà dám lắng nghe, dám đối thoại, dám chịu trách nhiệm và theo đến cùng những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
“Khi dân cần, Mặt trận có; khi dân khó, Mặt trận sẵn sàng tham gia”. Nếu tinh thần ấy được thực hiện, được phát huy bằng những việc làm cụ thể, bằng sự đổi mới thực chất và bằng trách nhiệm đến cùng trước Nhân dân, thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt chính trị trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
TS Đặng Vũ Cảnh Linh
Phó Viện trưởng Viện Đào tạo Bồi dưỡng cán bộ và NCKH,
Ủy ban TW Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam



