28/10/2026 lúc 10:07 (GMT+7)
Breaking News

Làng nghề Hà Nội đánh thức giá trị truyền thống bằng công nghệ số

Trong bối cảnh phương thức tiêu dùng và phân phối thay đổi nhanh chóng, công nghệ số mở ra cơ hội để sản phẩm làng nghề Hà Nội vượt qua giới hạn của những kênh tiêu thụ truyền thống, tiếp cận khách hàng rộng hơn và nâng cao giá trị thương mại. Tuy nhiên, chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi không dừng ở quảng bá trực tuyến, mà trở thành động lực đổi mới sản phẩm, tổ chức sản xuất và xây dựng thị trường ổn định, trên nền tảng gìn giữ bản sắc nghề.

Hà Nội hiện có khoảng 1.350 làng có nghề, trong đó 337 làng nghề, làng nghề truyền thống và nghề truyền thống đã được công nhận. Từ gốm sứ, lụa, sơn mài đến mây tre đan, mỗi ngành nghề không chỉ tạo ra những sản phẩm có công năng và giá trị kinh tế, mà còn lưu giữ tri thức thủ công, kỹ thuật chế tác và dấu ấn văn hóa của cộng đồng. Theo báo cáo của thành phố, doanh thu từ các làng nghề ước đạt hơn 25.000 tỷ đồng mỗi năm, cho thấy vai trò đáng kể của khu vực kinh tế này đối với đời sống và sản xuất của Thủ đô.

Dẫu vậy, quy mô sản xuất hay bề dày lịch sử không tự động bảo đảm năng lực cạnh tranh. Khi người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, còn các kênh phân phối ngày càng dịch chuyển lên môi trường số, sản phẩm làng nghề cần được tiếp cận bằng phương thức phù hợp với hành vi mua sắm mới. Trên cơ sở phân tích chính sách, số liệu công bố và một số trường hợp thực tiễn tại Phượng Dực, Bát Tràng, Vạn Phúc và Đa Sỹ, bài viết làm rõ cơ chế chuyển hóa giá trị truyền thống thành lợi thế thị trường, đồng thời xác định những điều kiện để công nghệ số đem lại hiệu quả kinh tế thực chất.

I. TỪ LỢI THẾ TRUYỀN THỐNG ĐẾN YÊU CẦU TÌM KIẾM THỊ TRƯỜNG

Giá trị của làng nghề chưa đồng nghĩa với lợi thế thương mại

Sức hấp dẫn của sản phẩm thủ công mỹ nghệ nằm ở sự kết hợp giữa chất liệu, kỹ thuật chế tác, kinh nghiệm của người thợ và bản sắc văn hóa địa phương. Một sản phẩm gốm có thể mang dấu ấn riêng qua cách tạo hình và xử lý men; tấm lụa thể hiện trình độ dệt, phối màu và thiết kế hoa văn; sản phẩm mây tre đan ghi dấu bàn tay người thợ qua cách lựa chọn nguyên liệu, tạo dáng và hoàn thiện từng chi tiết.

Những yếu tố ấy tạo nên sự khác biệt mà sản phẩm sản xuất đại trà khó có thể thay thế hoàn toàn. Ở góc độ kinh tế, đây là nguồn lực giúp làng nghề hình thành bản sắc thương hiệu, tạo khả năng định vị trong những phân khúc khách hàng coi trọng tính độc đáo, giá trị văn hóa và chất lượng thủ công.

Sản phẩm lụa Vạn Phúc kết hợp kỹ thuật dệt truyền thống với đổi mới thiết kế, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.

Tuy nhiên, cần phân biệt giá trị vốn có của sản phẩm với khả năng chuyển hóa giá trị ấy thành doanh thu. Người sản xuất có thể dành nhiều thời gian cho một công đoạn chế tác, nhưng người mua chưa chắc nhận biết được giá trị lao động ẩn sau sản phẩm. Một món đồ thủ công tinh xảo cũng có thể gặp khó khăn nếu kiểu dáng không phù hợp với không gian sống hiện đại, thông tin sản phẩm thiếu rõ ràng hoặc giá bán chưa tương xứng với khả năng chi trả của nhóm khách hàng mục tiêu.

Bởi vậy, thị trường không chỉ đánh giá sản phẩm qua nguồn gốc và kỹ thuật làm nghề, mà còn xem xét công năng, thiết kế, mức giá, chất lượng đồng đều và khả năng đáp ứng đơn hàng. Đối với thị trường xuất khẩu, yêu cầu về quy cách, tiến độ giao hàng, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng duy trì nguồn cung càng trở nên quan trọng.

Định hướng này phù hợp với Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021–2030 được phê duyệt tại Quyết định số 801/QĐ-TTg ngày 7/7/2022. Chương trình không chỉ hướng đến gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị sản phẩm, tạo việc làm và thu nhập, gắn phát triển làng nghề với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Như vậy, bảo tồn không thể chỉ được hiểu là duy trì kỹ thuật cũ hay lưu giữ những sản phẩm tiêu biểu. Một nghề chỉ có thể tiếp tục sống trong cộng đồng khi sản phẩm còn có người sử dụng, người làm nghề có thu nhập và tri thức nghề được truyền lại qua các thế hệ. Đổi mới phương thức kinh doanh, vì thế, không đối lập với bảo tồn; trái lại, có thể trở thành một điều kiện để bảo tồn có cơ sở kinh tế vững chắc hơn.

Điểm nghẽn nằm ở khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng

Trong thực tế, nhiều cơ sở làng nghề hoạt động với quy mô hộ gia đình, nguồn lực tài chính hạn chế và mạng lưới tiêu thụ phụ thuộc đáng kể vào các mối quen, thương lái hoặc hội chợ. Mô hình này có ưu điểm là duy trì những quan hệ giao dịch được hình thành qua thời gian, nhưng cũng khiến người sản xuất khó tiếp cận thường xuyên với dữ liệu về nhu cầu và phản hồi của người tiêu dùng.

Những hạn chế đó đã được đề cập trong các nghiên cứu về phát triển làng nghề truyền thống Hà Nội: quy mô sản xuất nhỏ, khả năng xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế, nguồn nguyên liệu chưa ổn định, trong khi một số nghề đứng trước nguy cơ mai một. Đây không chỉ là vấn đề năng lực riêng của từng hộ sản xuất, mà còn liên quan đến điều kiện tổ chức chuỗi sản xuất, cung ứng và phân phối.

Hoạt động xúc tiến thương mại giữ vai trò quan trọng trong việc quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu và kết nối các cơ sở làng nghề với đối tác phân phối, nhà nhập khẩu. Thông qua hội chợ, triển lãm và các chương trình kết nối giao thương, sản phẩm thủ công mỹ nghệ có thêm cơ hội tiếp cận thị trường, giới thiệu giá trị chế tác và mở rộng mạng lưới tiêu thụ. Tuy nhiên, để duy trì khả năng cạnh tranh trong bối cảnh nhu cầu liên tục biến đổi, các hoạt động này cần được bổ trợ bằng những phương thức tiếp cận khách hàng thường xuyên và linh hoạt hơn.

Trên thực tế, nếu chủ yếu dựa vào các kênh phân phối truyền thống hoặc những đợt xúc tiến thương mại theo thời điểm, cơ sở sản xuất có thể gặp khó khăn trong việc mở rộng tệp khách hàng, nắm bắt thị hiếu và xây dựng quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng. Khoảng cách giữa người làm nghề và thị trường vì thế không chỉ nằm ở khâu phân phối, mà còn ở khả năng tiếp nhận, xử lý thông tin và chuyển hóa nhu cầu thành những điều chỉnh phù hợp trong sản xuất, kinh doanh.

Trong bối cảnh đó, công nghệ số mở ra phương thức kết nối liên tục hơn giữa người sản xuất và thị trường. Thông qua các kênh trực tuyến, cơ sở làng nghề có thể chủ động giới thiệu sản phẩm, tiếp nhận phản hồi và từng bước nhận diện nhu cầu của từng nhóm khách hàng. Khi được khai thác hiệu quả, những thông tin này không chỉ hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm mà còn trở thành cơ sở để đổi mới mẫu mã, hoàn thiện chất lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh.

II. CÔNG NGHỆ SỐ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG, NÂNG CAO GIÁ TRỊ SẢN PHẨM LÀNG NGHỀ

Từ quảng bá sản phẩm đến kết nối trực tiếp với khách hàng

Điểm khác biệt của môi trường số không đơn thuần nằm ở việc đưa hình ảnh sản phẩm lên mạng, mà ở khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận, tăng tương tác và rút ngắn quá trình kết nối giữa người sản xuất với người mua. Nếu hội chợ truyền thống giúp sản phẩm hiện diện trong một không gian và khoảng thời gian nhất định, thì các nền tảng trực tuyến tạo điều kiện để hoạt động giới thiệu, tư vấn và giao dịch được duy trì thường xuyên hơn.

Đối với những sản phẩm có đặc điểm chế tác trực quan, livestream còn giúp khách hàng quan sát công đoạn sản xuất, tìm hiểu công năng và đặt câu hỏi trực tiếp. Hình thức này có thể làm rõ những đặc trưng mà một bức ảnh tĩnh khó truyền tải đầy đủ, nhất là với hàng thủ công vốn có giá trị từ chất liệu, kỹ thuật và bàn tay người thợ.

Thực tiễn tại xã Phượng Dực cho thấy khả năng ứng dụng phương thức này ở những địa bàn có nhiều ngành nghề truyền thống. Theo thông tin được công bố tháng 5/2026, một số cơ sở mây tre đan, cỏ tế đã mở rộng hoạt động trên các nền tảng trực tuyến sau khi được hướng dẫn livestream và bán hàng thương mại điện tử. Đại diện Công ty TNHH Mây tre An Phú cho biết lượng khách hàng tăng gần gấp đôi so với trước khi cơ sở đẩy mạnh những kênh này. Cùng tại Phượng Dực, video giới thiệu nghề tò he Xuân La thu hút hơn hai triệu lượt xem trong thời gian ngắn.

Các kết quả trên cho thấy công nghệ số có thể giúp những sản phẩm vốn quen thuộc với thị trường địa phương tiếp cận nhóm công chúng rộng hơn. Đáng chú ý, những nghề mang tính đặc thù như mây tre đan hay tò he có thể sử dụng chính quá trình chế tác và câu chuyện về người thợ làm nội dung giới thiệu sản phẩm. Nhờ đó, hoạt động quảng bá không tách rời nghề truyền thống, mà lấy giá trị của nghề làm trung tâm để thu hút sự quan tâm của khách hàng.

Dù vậy, cần phân biệt mức độ lan tỏa thông tin với hiệu quả giao dịch. Lượt xem lớn thể hiện khả năng thu hút chú ý, nhưng không tự động chuyển thành doanh thu; lượng khách hàng tăng cũng cần được đặt trong mối liên hệ với quy mô đơn hàng, chi phí vận hành và khả năng duy trì khách mua. Với cơ sở sản xuất nhỏ, việc mở rộng thị trường chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm năng lực tư vấn, quản lý đơn hàng, đóng gói, giao nhận và xử lý phản hồi sau bán hàng.

Nhìn ở phạm vi rộng hơn, những số liệu thương mại điện tử được công bố về địa bàn Phú Xuyên trước khi sắp xếp đơn vị hành chính cũng phản ánh xu hướng đáng chú ý. Theo số liệu ngành thuế được dẫn tại một diễn đàn về chuyển đổi số ngành Công Thương, doanh thu thương mại điện tử của địa bàn tăng từ 147 tỷ đồng năm 2023 lên 1.010 tỷ đồng năm 2024; riêng năm tháng đầu năm 2025 đạt 5.000 tỷ đồng. Đây là số liệu tổng hợp trên phạm vi địa bàn, không thể đồng nhất với doanh thu riêng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ hay quy toàn bộ mức tăng cho một chương trình livestream. Tuy nhiên, kết quả cho thấy kinh tế số có thể trở thành một kênh giao dịch đáng kể khi được hỗ trợ bởi tổ chức triển khai, kỹ năng số và sự tham gia của các chủ thể kinh doanh.

Từ trường hợp Phượng Dực có thể rút ra một vấn đề: công nghệ số không tự tạo ra sức hấp dẫn cho sản phẩm, nhưng có khả năng làm cho giá trị vốn có được nhìn thấy rõ hơn và tiếp cận đúng nhóm khách hàng. Nói cách khác, đây là phương thức mở rộng thị trường, chứ không phải sự thay thế cho chất lượng sản phẩm hay năng lực kinh doanh.

Từ bán hàng trực tuyến đến đổi mới sản phẩm theo nhu cầu thị trường

Nếu chỉ xem chuyển đổi số là hoạt động quảng bá và bán hàng, các cơ sở làng nghề mới khai thác được một phần tiềm năng của công nghệ. Giá trị sâu hơn nằm ở khả năng sử dụng thông tin thị trường để điều chỉnh sản phẩm và nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất.

Trên môi trường trực tuyến, phản hồi của khách hàng được thể hiện qua câu hỏi, đánh giá, lựa chọn mẫu mã, hành vi đặt hàng và nhu cầu mua lại. Khi được ghi nhận, tổng hợp và phân tích có hệ thống, những thông tin này giúp cơ sở sản xuất nhận diện nhóm sản phẩm được quan tâm, những công năng còn thiếu hoặc mức giá phù hợp với từng phân khúc. Đây là nguồn dữ liệu có thể bổ sung cho kinh nghiệm của người thợ, giúp việc phát triển sản phẩm bớt phụ thuộc vào phán đoán chủ quan.

Chẳng hạn, một cơ sở sản xuất đồ thủ công có thể nhận ra khách hàng không chỉ quan tâm đến sản phẩm trang trí truyền thống mà còn tìm kiếm những vật dụng có kích thước nhỏ, dễ bảo quản, phù hợp với căn hộ hiện đại hoặc được thiết kế làm quà tặng. Từ dữ liệu đó, cơ sở có thể nghiên cứu cải tiến công năng, điều chỉnh kiểu dáng, lựa chọn bao bì và xây dựng các dòng sản phẩm theo nhóm khách hàng. Đây là ví dụ về cách khai thác dữ liệu, không phải kết quả định lượng của một cơ sở cụ thể.

Tại làng lụa Vạn Phúc, việc ứng dụng máy tính trong thiết kế và xử lý mẫu hoa văn được ghi nhận là giúp rút ngắn thời gian hoàn thiện mẫu, tạo thuận lợi cho việc chỉnh sửa và phát triển kiểu dáng mới. Theo chia sẻ của nghệ nhân tại hội làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, số hóa thiết kế mở ra khả năng tạo nhiều mẫu hoa văn phù hợp hơn với nhu cầu thị trường, đồng thời hỗ trợ lưu giữ các họa tiết truyền thống dưới dạng dữ liệu số.

Trường hợp này cho thấy công nghệ có thể tác động đồng thời đến hai khâu: nâng cao năng lực sáng tạo sản phẩm và bảo tồn tri thức nghề. Khi các mẫu hoa văn được lưu trữ, quản lý và chỉnh sửa trên môi trường số, việc phát triển thiết kế mới có thể thuận lợi hơn, trong khi những giá trị đã được tích lũy qua nhiều thế hệ có thêm một phương thức lưu giữ.

Từ đây, cần phân biệt hai nhóm ứng dụng có quan hệ bổ trợ. Công nghệ số giúp cơ sở sản xuất tìm hiểu thị trường, quảng bá và kết nối khách hàng; còn công nghệ trong thiết kế, sản xuất và quản lý giúp cơ sở đáp ứng tốt hơn yêu cầu về mẫu mã, chất lượng và tiến độ. Nếu chỉ mở rộng đầu ra mà không cải thiện năng lực cung ứng, người sản xuất có thể rơi vào tình trạng đơn hàng tăng nhưng không đáp ứng được thời hạn giao hàng. Ngược lại, đầu tư thiết bị mà không hiểu nhu cầu thị trường cũng dễ dẫn đến sản phẩm không phù hợp hoặc chi phí đầu tư khó thu hồi.

Bởi vậy, yêu cầu đặt ra không phải là cơ giới hóa mọi công đoạn, mà là lựa chọn công nghệ theo đặc điểm từng nghề. Với những công đoạn tạo nên bản sắc và giá trị độc đáo của sản phẩm thủ công, vai trò của nghệ nhân cần được giữ vững. Công nghệ nên được sử dụng để hỗ trợ những khâu có thể chuẩn hóa, lưu trữ, quản lý hoặc cải tiến, từ đó giúp người thợ tập trung hơn vào kỹ thuật, sáng tạo và chất lượng.

Thước đo chuyển đổi số là hiệu quả tiêu thụ, không phải mức độ hiện diện trực tuyến

Một gian hàng được mở, một tài khoản có nhiều người theo dõi hay một phiên livestream đạt lượng xem lớn mới chỉ phản ánh sự hiện diện của cơ sở sản xuất trên môi trường số. Để xác định hiệu quả kinh tế, cần xem xét cả quá trình từ tiếp cận khách hàng đến phát sinh đơn hàng, hoàn tất giao dịch và duy trì quan hệ với người mua.

Về phương diện quản trị, các cơ sở làng nghề cần quan tâm đến những chỉ tiêu như tỷ lệ chuyển đổi từ người quan tâm thành người mua, số đơn hàng hoàn tất, giá trị đơn hàng bình quân, chi phí bán hàng, tỷ lệ hàng hoàn trả và tỷ lệ khách hàng quay lại. Những chỉ tiêu này có ý nghĩa hơn việc chỉ thống kê lượt xem bởi chúng phản ánh trực tiếp hơn khả năng chuyển sự quan tâm thành giá trị kinh tế.

Đối với các hộ sản xuất quy mô nhỏ, việc theo dõi dữ liệu không nhất thiết phải bắt đầu bằng hệ thống quản trị phức tạp. Một bảng theo dõi đơn hàng, danh mục sản phẩm được chuẩn hóa và cơ chế ghi nhận phản hồi khách hàng đã có thể tạo nền tảng cho quản trị tốt hơn. Khi quy mô phát triển, cơ sở mới cần cân nhắc những công cụ chuyên sâu hơn để quản lý tồn kho, chi phí, lịch sản xuất và quan hệ khách hàng.

Nhìn từ góc độ lý luận, chuyển đổi số cần được xem là sự đổi mới phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh, không phải việc bổ sung một vài công cụ truyền thông. Công nghệ chỉ phát huy giá trị khi thông tin thu thập được dẫn đến thay đổi trong quyết định sản xuất, phân phối và chăm sóc khách hàng. Đây cũng là điều kiện để hoạt động kinh doanh trực tuyến từng bước chuyển từ những đợt bán hàng thời vụ sang một kênh tiêu thụ có khả năng duy trì ổn định.

III. ĐIỀU KIỆN ĐỂ CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠO RA SỨC CẠNH TRANH BỀN VỮNG

Khắc phục hạn chế về năng lực sản xuất và nhân lực số

Công nghệ số mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường, nhưng khả năng tận dụng cơ hội ấy giữa các làng nghề không đồng đều. Sự khác biệt về quy mô sản xuất, nguồn vốn, trình độ quản trị và nhân lực có thể khiến cùng một công cụ mang lại kết quả khác nhau. Vì vậy, không thể mặc nhiên coi việc đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử hay tổ chức livestream là giải pháp phù hợp với mọi cơ sở.

Làng nghề rèn Đa Sỹ là trường hợp cho thấy rõ mối liên hệ giữa năng lực sản xuất và yêu cầu mở rộng đầu ra. Theo ông Hoàng Quốc Chính, Chủ tịch Hội làng nghề Đa Sỹ, làng có hơn 800 hộ trực tiếp sản xuất nghề rèn, khoảng 100 hộ kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm cùng các hộ cung ứng nguyên liệu phục vụ sản xuất. Mạng lưới này hình thành chuỗi hoạt động kinh tế gắn kết nhiều chủ thể, từ cung ứng vật liệu đến chế tác và phân phối.

Tuy nhiên, những khó khăn về không gian sản xuất và khả năng mở rộng thị trường vẫn đặt ra yêu cầu hỗ trợ đồng bộ. Với đặc thù sản phẩm cơ khí, người bán cần truyền tải chính xác thông tin về công năng, chất liệu và chất lượng; người sản xuất phải bảo đảm độ ổn định của sản phẩm, tiến độ giao hàng và khả năng tiếp nhận đơn đặt hàng. Livestream có thể giúp khách hàng hiểu rõ hơn về sản phẩm, nhưng không thể thay thế các điều kiện nền tảng đó. Những vấn đề về môi trường và an toàn lao động trong nghề rèn cũng cần được xử lý bằng giải pháp chuyên biệt, thay vì kỳ vọng công nghệ bán hàng có thể giải quyết toàn bộ khó khăn của làng nghề.

Bên cạnh nguồn lực tài chính, kỹ năng số là điều kiện quan trọng để các cơ sở chủ động vận hành kênh bán hàng. Người làm nghề cần biết xây dựng nội dung, trình bày thông tin sản phẩm, tư vấn khách hàng, theo dõi đơn hàng và xử lý những tình huống phát sinh. Đây là những năng lực có thể được đào tạo, nhưng cần gắn với sản phẩm và quy trình kinh doanh cụ thể, thay vì chỉ dừng ở việc hướng dẫn sử dụng ứng dụng.

Hỗ trợ có trọng tâm, đánh giá bằng kết quả thực chất

Đối với chính quyền địa phương, trọng tâm không nên là thúc đẩy mọi cơ sở sử dụng cùng một nền tảng, mà là hỗ trợ đúng nhu cầu và tháo gỡ những điểm nghẽn cản trở khả năng tiêu thụ. Cơ sở đã có sản phẩm tốt nhưng thiếu kỹ năng quảng bá cần được hỗ trợ khác với cơ sở đang gặp khó khăn về thiết kế, chất lượng hoặc năng lực cung ứng.

Một hướng triển khai phù hợp là tổ chức đào tạo gắn với quá trình vận hành thực tế: chuẩn hóa thông tin sản phẩm, xây dựng gian hàng, thực hành livestream, quản lý đơn hàng và theo dõi hiệu quả bán hàng. Các hiệp hội nghề nghiệp, hợp tác xã và doanh nghiệp có thể tham gia kết nối nguồn lực, hỗ trợ tập hợp sản phẩm, chia sẻ kinh nghiệm và tổ chức phân phối. Với những cơ sở chưa đủ điều kiện tự vận hành, hình thức hỗ trợ dùng chung có thể giúp giảm chi phí ban đầu và hạn chế tình trạng đầu tư phân tán.

Những chương trình chuyển đổi số ở cấp cơ sở của Hà Nội trong năm 2026 đã bước đầu tạo ra các chỉ tiêu có thể theo dõi. Theo báo cáo về kinh tế số thành phố, đợt cao điểm 100 ngày chuyển đổi số ghi nhận 2.101 sản phẩm được quảng bá qua livestream và 568 sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề được đưa lên sàn thương mại điện tử. Đây là những kết quả về mức độ triển khai, cho thấy nỗ lực mở rộng sự hiện diện của sản phẩm trên môi trường số.

Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả, cần theo dõi thêm số đơn hàng phát sinh, doanh thu thực nhận, chi phí triển khai và khả năng duy trì hoạt động sau khi chương trình hỗ trợ kết thúc. Việc phân biệt giữa chỉ tiêu triển khai và kết quả kinh tế đặc biệt quan trọng, bởi một hoạt động được thực hiện đầy đủ chưa đồng nghĩa với việc đã hình thành được thị trường ổn định.

Đối với cơ sở sản xuất, chuyển đổi số cũng cần được triển khai theo lộ trình phù hợp với nguồn lực. Trước hết, cần lựa chọn nhóm sản phẩm có khả năng cạnh tranh, xác định khách hàng mục tiêu và chuẩn hóa thông tin. Sau đó mới mở rộng kênh bán hàng, xây dựng dữ liệu khách hàng và cải tiến quy trình theo phản hồi thị trường. Cách tiếp cận này giúp hạn chế đầu tư dàn trải, đồng thời tạo điều kiện để cơ sở kiểm chứng hiệu quả trước khi mở rộng quy mô.

Giữ bản sắc nghề trong quá trình đổi mới

Thách thức cuối cùng không chỉ là bán được nhiều sản phẩm hơn, mà còn là làm thế nào để quá trình thương mại hóa không làm suy giảm giá trị văn hóa đã tạo nên sự khác biệt của làng nghề.

Trong môi trường cạnh tranh trực tuyến, việc chạy theo sản phẩm đại trà hoặc giảm giá bằng mọi cách có thể tạo ra doanh số ngắn hạn, nhưng khó xây dựng lợi thế lâu dài. Đối với hàng thủ công mỹ nghệ, câu chuyện về nguồn gốc, kỹ thuật chế tác và người thợ cần được truyền tải chính xác, gắn với chất lượng thực tế của sản phẩm. Giá trị truyền thống không thể chỉ tồn tại trong nội dung quảng cáo mà phải được thể hiện trong chính sản phẩm và quá trình sản xuất.

Do đó, cần phát huy vai trò của nghệ nhân trong việc gìn giữ kỹ thuật cốt lõi, đồng thời tạo điều kiện để thế hệ trẻ tham gia thiết kế, truyền thông và quản trị thương mại. Sự kết hợp giữa tri thức nghề được tích lũy qua nhiều thế hệ với năng lực tiếp cận thị trường của lực lượng lao động trẻ có thể mở ra hướng phát triển phù hợp hơn cho các cơ sở làng nghề.

Về phía quản lý, việc hỗ trợ số hóa mẫu mã, lưu giữ thông tin nghề và nâng cao năng lực xây dựng thương hiệu cần đi cùng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát thông tin sản phẩm và duy trì chất lượng. Đây là những điều kiện giúp giá trị truyền thống được chuyển tải rộng rãi hơn mà không bị tách rời khỏi nguồn gốc văn hóa.

Xét đến cùng, công nghệ số không phải đích đến độc lập. Giá trị của công nghệ nằm ở khả năng giúp người làm nghề tiếp cận thị trường, nâng cao hiệu quả kinh doanh và có thêm điều kiện duy trì hoạt động sản xuất. Vì vậy, hiệu quả chuyển đổi số cần được xem xét đồng thời trên hai phương diện: sức cạnh tranh kinh tế và khả năng bảo tồn, tiếp nối nghề truyền thống.

Đánh thức giá trị truyền thống bằng công nghệ số là yêu cầu phát triển đặt ra đối với làng nghề Hà Nội trong bối cảnh phương thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng đang thay đổi. Từ việc mở rộng kênh bán hàng tại Phượng Dực đến ứng dụng công nghệ trong thiết kế tại Vạn Phúc, thực tiễn cho thấy công nghệ có thể tạo thêm điều kiện để sản phẩm thủ công tiếp cận khách hàng và thích ứng với nhu cầu mới.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với chất lượng sản phẩm, năng lực quản trị, nhân lực và khả năng tổ chức cung ứng. Chính sách hỗ trợ cần hướng đến kết quả tiêu thụ thực chất, trong khi các cơ sở sản xuất phải chủ động sử dụng thông tin thị trường để cải tiến sản phẩm và xây dựng quan hệ lâu dài với khách hàng.

Giữ nghề vì thế không chỉ là bảo tồn kỹ thuật đã có, mà còn là tạo điều kiện để nghề tiếp tục sinh sống trong nền kinh tế hiện đại. Khi công nghệ được sử dụng đúng mục tiêu, những giá trị được bồi đắp qua nhiều thế hệ sẽ có thêm cơ hội tìm được thị trường, tạo sinh kế và tiếp tục được trao truyền./.

ThS. Lê Văn Chiến