Kinh tế tư nhân đang trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và huy động nguồn lực xã hội. Để khu vực này thực sự bứt phá, bên cạnh những chính sách khuyến khích phát triển cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, vốn, đất đai, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Phú Thọ cho thấy việc đồng hành cùng doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư và khơi thông nguồn lực đang tạo nền tảng để kinh tế tư nhân phát huy vai trò là động lực tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới.
I. MỞ ĐẦU
Trong tiến trình phát triển kinh tế, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Sau nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư, khai thác tài nguyên, lao động chi phí thấp và gia tăng các yếu tố đầu vào, nền kinh tế đang đứng trước những giới hạn về hiệu quả sử dụng nguồn lực cũng như khả năng duy trì tăng trưởng trong dài hạn. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng tác động của chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặt ra yêu cầu phải hình thành những động lực tăng trưởng mới dựa trên đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và phát huy hiệu quả các nguồn lực của khu vực kinh tế tư nhân.
Từ góc độ lý luận, kinh tế tư nhân được xem là khu vực có khả năng phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường một cách linh hoạt và hiệu quả, qua đó góp phần nâng cao năng suất tổng hợp của nền kinh tế. Đối với nền kinh tế thị trường hiện đại, doanh nghiệp tư nhân thường có khả năng thích ứng nhanh với biến động của thị trường, chủ động đổi mới mô hình quản trị, ứng dụng khoa học - công nghệ và phát triển các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo dấu mốc quan trọng trong đổi mới tư duy phát triển khi xác định kinh tế tư nhân là lực lượng tiên phong trong huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo động lực tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới. Quan điểm này cũng tương đồng với nhiều nghiên cứu quốc tế khi cho rằng doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, là khu vực tạo ra phần lớn việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài.
Thuộc xu thế chung đó, Phú Thọ đang nổi lên là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng khá, môi trường đầu tư từng bước được cải thiện và khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng sản xuất, tạo việc làm và gia tăng nguồn thu ngân sách. Sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp tư nhân góp phần khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của địa phương, tạo thêm dư địa cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy thế, để khu vực này thực sự trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo vẫn cần tiếp tục tháo gỡ nhiều rào cản về thể chế, khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển và chất lượng môi trường kinh doanh.

Môi trường đầu tư được cải thiện cùng sự phát triển của các khu công nghiệp đang tạo điều kiện để khu vực kinh tế tư nhân mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh Phú Thọ.
II. KINH TẾ TƯ NHÂN - ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CỦA TĂNG TRƯỞNG ĐỊA PHƯƠNG
Từ góc độ kinh tế học phát triển, khu vực kinh tế tư nhân được xem là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nhờ khả năng phân bổ nguồn lực theo tín hiệu của thị trường và thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Khác với khu vực công, doanh nghiệp tư nhân chịu áp lực cạnh tranh trực tiếp nên luôn có động lực tối ưu hóa chi phí, nâng cao hiệu quả quản trị, đổi mới công nghệ và cải tiến sản phẩm nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh. Chính cơ chế cạnh tranh này tạo ra quá trình sàng lọc tự nhiên, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới liên tục, từ đó góp phần nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế.
Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân không chỉ được đo bằng tỷ trọng trong GDP hay số lượng doanh nghiệp đang hoạt động. Quan trọng hơn, khu vực này tạo ra các chuỗi giá trị mới, thúc đẩy hình thành mạng lưới liên kết giữa sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng, mở rộng thị trường lao động, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh tế. Thông qua quá trình đầu tư, đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất, doanh nghiệp tư nhân còn góp phần lan tỏa tri thức quản trị, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ và tạo động lực cho chuyển đổi số trong nền kinh tế. Nội dung này cũng là lý do nhiều quốc gia coi phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân là điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động bên ngoài và duy trì tăng trưởng trong dài hạn.
Ở tỉnh Phú Thọ phản ánh khá rõ xu hướng này. Những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân không ngừng mở rộng cả về quy mô và phạm vi hoạt động. Toàn tỉnh hiện có khoảng 41.870 doanh nghiệp và cơ sở kinh tế tư nhân, với tổng vốn đăng ký trên 450 nghìn tỷ đồng; riêng số doanh nghiệp thành lập mới đạt hơn 4.500, tăng 44,2% so với giai đoạn trước và chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn. Những con số này không chỉ phản ánh sự gia tăng về số lượng chủ thể kinh doanh mà còn cho thấy sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với triển vọng phát triển của địa phương. Đáng chú ý hơn, khu vực kinh tế tư nhân đang mở rộng sang nhiều lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ logistics, thương mại hiện đại, nông nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Sự đa dạng hóa này góp phần huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, giảm phụ thuộc vào khu vực đầu tư công và từng bước hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp địa phương có khả năng liên kết, bổ trợ lẫn nhau.
Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân càng được khẳng định rõ thông qua những đóng góp đối với tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Cùng với sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, quy mô GRDP của Phú Thọ đạt khoảng 412,4 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức gần 16%, trong khi thu ngân sách nhà nước vượt 62.000 tỷ đồng và khu vực doanh nghiệp đóng góp hơn 9.000 tỷ đồng tiền thuế. Các kết quả này cho thấy khu vực tư nhân đã trở thành một nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, mở rộng quy mô sản xuất và tăng cường nguồn thu cho ngân sách địa phương. Đồng thời, sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng tăng trưởng.
Điều đáng chú ý hơn là khu vực kinh tế tư nhân đang từng bước đảm nhận vai trò dẫn dắt quá trình đổi mới mô hình sản xuất và kinh doanh tại địa phương. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư công nghệ, ứng dụng chuyển đổi số trong quản trị, sản xuất và phân phối, qua đó nâng cao năng suất, giảm chi phí và mở rộng thị trường. Trong lĩnh vực chế biến nông sản, các doanh nghiệp chế biến chè đã tăng cường liên kết với vùng nguyên liệu, áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Ở lĩnh vực chế biến gỗ, nhiều cơ sở chuyển từ gia công đơn giản sang sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, kết hợp đầu tư dây chuyền hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu của các thị trường quốc tế. Lĩnh vực logistics và công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp tư nhân từng bước mở rộng dịch vụ vận tải, kho bãi, kết nối chuỗi cung ứng và cung cấp linh kiện, vật tư cho các doanh nghiệp sản xuất, qua đó nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tăng cường liên kết giữa các ngành kinh tế.
Những mô hình này cho thấy khu vực kinh tế tư nhân không chỉ tạo ra sản phẩm và việc làm mà còn góp phần hình thành các chuỗi giá trị bền vững, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân, hợp tác xã và các đối tác trong nước, quốc tế, cũng đang từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững của tỉnh Phú Thọ.
III. NHỮNG ĐIỂM NGHẼN KHIẾN KINH TẾ TƯ NHÂN CHƯA PHÁT HUY HẾT TIỀM NĂNG
Mặc dù khu vực kinh tế tư nhân đang ngày càng khẳng định vai trò là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế địa phương, song những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và kỳ vọng đặt ra. Sự phát triển của khu vực này vẫn chịu tác động của nhiều điểm nghẽn cả về nội lực doanh nghiệp lẫn môi trường thể chế. Những hạn chế này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực mà còn ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, khả năng đổi mới sáng tạo và mức độ tham gia của doanh nghiệp vào các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao.
Trước hết, quy mô doanh nghiệp còn nhỏ là rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, với nguồn lực tài chính hạn chế, quy mô sản xuất phân tán và năng lực tích lũy chưa cao. Quy mô nhỏ khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, xây dựng thương hiệu cũng như phát triển thị trường trong và ngoài nước. Song, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, năng lực cung ứng và quản trị chuỗi sản xuất còn hạn chế, làm giảm cơ hội tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất của các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Xét dưới góc độ kinh tế học phát triển, quy mô nhỏ còn tạo ra một "vòng luẩn quẩn" đối với doanh nghiệp: nguồn vốn hạn chế dẫn đến khó đầu tư đổi mới công nghệ; công nghệ lạc hậu làm năng suất lao động thấp; năng suất thấp kéo theo lợi nhuận và khả năng tích lũy không cao; từ đó doanh nghiệp tiếp tục thiếu nguồn lực để mở rộng đầu tư. Nếu không có những cơ chế hỗ trợ phù hợp nhằm phá vỡ vòng xoáy này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ khó tạo ra bước phát triển về chất lượng trong giai đoạn tới.
Bên cạnh những hạn chế về quy mô, khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển vẫn là điểm nghẽn đáng chú ý. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm, năng lực tài chính hạn chế hoặc chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn. Việc tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất và hạ tầng phục vụ đầu tư ở một số lĩnh vực cũng còn những trở ngại nhất định, làm gia tăng chi phí và kéo dài thời gian triển khai dự án. Khi các quy tắc, cơ chế và thủ tục chưa tạo điều kiện để các chủ thể tiếp cận nguồn lực một cách minh bạch, bình đẳng và thuận lợi, chi phí giao dịch sẽ gia tăng, làm suy giảm động lực đầu tư và đổi mới của doanh nghiệp. Vì vậy, phát triển kinh tế tư nhân không chỉ phụ thuộc vào năng lực nội tại của doanh nghiệp mà còn gắn chặt với việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao chất lượng điều hành và cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng công khai, minh bạch và hiệu quả.
Năng suất lao động bình quân của nhiều doanh nghiệp mới đạt khoảng 100 triệu đồng/lao động, thấp hơn đáng kể so với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nhiều doanh nghiệp quy mô lớn. Khoảng cách này phản ánh sự khác biệt về trình độ công nghệ, năng lực quản trị và mức độ đầu tư cho đổi mới sáng tạo. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có điều kiện đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), trong khi việc ứng dụng công nghệ số, tự động hóa và các giải pháp quản trị hiện đại vẫn diễn ra chưa đồng đều. Theo mô hình đổi mới sáng tạo mở (Open Innovation), khả năng đổi mới của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực nội bộ mà còn dựa trên mức độ liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp đối tác và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Sự kết nối giữa doanh nghiệp tư nhân với các chủ thể này còn hạn chế, dẫn đến quá trình tiếp nhận công nghệ mới, chia sẻ tri thức và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao chưa đạt như kỳ vọng. Quá trình chuyển đổi số, tự động hóa và phát triển kinh tế xanh đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng cao. Nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động kỹ thuật, nhân lực có kỹ năng số, chuyên gia công nghệ và đội ngũ quản trị có tư duy hiện đại. Hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực không chỉ ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng công nghệ mới mà còn làm giảm hiệu quả quản trị, năng suất lao động và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Trong dài hạn, nếu không nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động, khu vực kinh tế tư nhân sẽ khó đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng cũng như mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.
IV. KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC - TẠO ĐỘNG LỰC MỚI CHO KINH TẾ TƯ NHÂN
Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, năng suất và chuyển đổi số, yêu cầu đặt ra không chỉ là tháo gỡ những rào cản hiện hữu mà còn phải kiến tạo một hệ sinh thái phát triển thuận lợi, giúp doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Hoàn thiện thể chế là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực và tạo lập niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp. Theo kinh tế học thể chế, chất lượng của các quy tắc và cơ chế thực thi có ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí giao dịch, mức độ an toàn của hoạt động đầu tư và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Một thể chế minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ pháp luật, chủ động xây dựng chiến lược đầu tư dài hạn và nâng cao khả năng thích ứng với những biến động của thị trường. Ngược lại, sự chồng chéo của quy định, thủ tục hành chính phức tạp hay thiếu nhất quán trong tổ chức thực hiện sẽ làm gia tăng chi phí giao dịch, hạn chế động lực đầu tư và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân đã thể hiện rõ tư duy đổi mới khi nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Những định hướng này không chỉ tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào tính ổn định và minh bạch của môi trường đầu tư.
Cùng với hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh là giải pháp có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh của địa phương. Điều kiện các chính sách ưu đãi giữa các địa phương ngày càng có xu hướng tương đồng, chất lượng điều hành của chính quyền trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng hơn các ưu đãi mang tính ngắn hạn. Việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, số hóa quy trình giải quyết hồ sơ, công khai thông tin quy hoạch, duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên với doanh nghiệp và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý sẽ giúp giảm đáng kể chi phí thời gian, chi phí tuân thủ và các chi phí không chính thức. Một môi trường đầu tư minh bạch và có tính dự báo cao còn góp phần giảm thiểu rủi ro trong quá trình triển khai dự án, tạo điều kiện để doanh nghiệp yên tâm mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường.
Khơi thông nguồn lực phát triển cũng cần được tiếp cận theo nghĩa rộng, vượt ra ngoài phạm vi vốn đầu tư hay tín dụng. Đối với nền kinh tế số, nguồn lực phát triển bao gồm cả đất đai, hạ tầng, khoa học - công nghệ, dữ liệu số, nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng tiếp cận tri thức. Do đó, việc tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận mặt bằng sản xuất phù hợp, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng, phát triển hạ tầng số, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân. Đặc biệt, dữ liệu số đang trở thành một nguồn lực sản xuất mới, có vai trò tương đương với vốn và lao động trong nền kinh tế hiện đại. Khả năng khai thác dữ liệu để tối ưu hóa hoạt động quản trị, dự báo thị trường, kết nối chuỗi cung ứng và phát triển sản phẩm sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong giai đoạn tới. Vì vậy, chính sách phát triển kinh tế tư nhân cần chuyển từ tư duy hỗ trợ đơn thuần sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái, trong đó doanh nghiệp được tiếp cận đồng thời với các nguồn lực về tài chính, công nghệ, tri thức và dữ liệu.
Trên thực tế, Phú Thọ đang triển khai nhiều giải pháp nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Việc tổ chức các hội nghị gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp theo định kỳ đã góp phần thiết lập kênh trao đổi trực tiếp giữa chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp, qua đó kịp thời nắm bắt, tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Song song với đó, địa phương tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và triển khai các nhiệm vụ gắn với ba đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Điều đáng chú ý là các giải pháp này không chỉ hướng tới xử lý những khó khăn trước mắt mà còn tập trung xây dựng một hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp ổn định, minh bạch và có khả năng thích ứng với những yêu cầu mới của nền kinh tế số và hội nhập quốc tế.
Kinh nghiệm từ một số địa phương phát triển năng động cũng cho thấy chất lượng thể chế là yếu tố quyết định khả năng bứt phá của khu vực kinh tế tư nhân. Bình Dương tạo dựng sức hấp dẫn đầu tư thông qua mô hình chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp, phát triển các khu công nghiệp theo hướng thông minh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Quảng Ninh duy trì vị trí dẫn đầu về chất lượng điều hành nhờ kiên trì cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công và xây dựng môi trường đầu tư minh bạch. Bắc Ninh lại tập trung tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với khu vực đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Điểm chung của các mô hình này không nằm ở mức độ ưu đãi dành cho doanh nghiệp mà ở việc kiến tạo một thể chế minh bạch, ổn định và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng.
V. KẾT LUẬN
Kinh tế tư nhân đang từng bước khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng, góp phần nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương. Chất lượng phát triển vì thế không còn chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô đầu tư, mà còn phụ thuộc vào năng lực phát triển của cộng đồng doanh nghiệp tư nhân. Tại Phú Thọ cho thấy, khi chính quyền chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo và đồng hành, đồng thời chú trọng hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, khơi thông các nguồn lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, khu vực kinh tế tư nhân có điều kiện phát huy tốt hơn tiềm năng và sức sáng tạo. Đây không chỉ là giải pháp tạo động lực tăng trưởng trước mắt mà còn là nền tảng để xây dựng nền kinh tế địa phương năng động, tự chủ và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số./.
Ths. Lê Văn Dũng



