22/05/2024 lúc 13:10 (GMT+7)
Breaking News

Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực yêu cầu nhà nước trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

Việc nghiên cứu để cải thiện và nâng cao chất lượng của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước sao cho phù hợp với luật pháp Việt Nam, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và áp dụng các cải tiến hiện đại là vô cùng cần thiết.

Mục tiêu là xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực linh hoạt, ngăn chặn mọi hình thức lạm quyền và chuyên quyền, đồng thời giảm thiểu tình trạng tham nhũng và đảm bảo quyền dân chủ của người dân. Cần phải tập trung vào việc hiểu rõ hơn về cơ chế kiểm soát quyền lực đã được thiết lập, đồng thời đánh giá hiệu suất của chúng và đề xuất các biện pháp cải thiện. Bằng cách này, chúng ta có thể tạo ra một hệ thống chính trị mạnh mẽ, linh hoạt và thân thiện với nhân dân, từ đó đảm bảo sự bền vững và phát triển của quốc gia.

1. Đặt vấn đề

Trong tổ chức và thực thi quyền lực của nhà nước, việc kiểm soát là không thể thiếu. Chức năng quản lý được thực hiện thông qua luật pháp và bộ máy chính nhà nước. Tuy nhiên, nguy cơ sử dụng quyền luôn tiềm ẩn. Vì vậy, Nhà nước cần tự kiểm soát, thực hiện hiệu quả, hạn chế quyền và sử dụng quyền lực theo đúng mục tiêu, tinh thần của Đại hội XIII và Nghị quyết số 27-NQ/TW của Đảng. Bản chất của việc kiểm quyền quyền nhà nước là bảo đảm mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân khi nhận được quyền phải chịu sự giám sát tại mọi cấp chính quyền. Điều này bao gồm các phân quyền bổ sung theo chiều dọc và ngang trong mối liên hệ giữa các cơ quan nhà nước ở trung tâm và địa phương cũng như phân chia quyền lực giữa các nhánh quyền lực của chính quyền.

Trong lĩnh vực pháp luật ở Việt Nam, việc đảm bảo kiểm soát quyền lực nhà nước đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng, được khẳng định từ Cương lĩnh chính trị năm 2011 của Đảng và Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Mặc dù pháp luật và chính sách đã được thiết lập, thể hiện cam kết mạnh mẽ để hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, nhưng hiệu quả vẫn còn thấp và cơ chế kiểm soát vẫn còn thiếu. Việc nghiên cứu nhằm cải thiện chất lượng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là cần thiết, với mục tiêu xây dựng một hệ thống chính trị mạnh mẽ, thể hiện ý chí của nhân dân.

2. Cơ sở lý luận về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

(1) Nội dung cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước đại diện cho một hệ thống phức tạp của các khả năng, quy tắc và phương pháp được quy định trong Hiến pháp và các luật khác. Nó là cột mốc pháp lý, chỉ đạo cho các cơ quan chuyên trách trong bộ máy quyền lực nhà nước, hướng dẫn họ trong việc thực thi quyền lực hoặc lãnh đạo và đồng thời giúp kiểm soát quá trình ra quyết định. Cơ chế này bao gồm các biện pháp bảo đảm tính hợp pháp và hợp hiến của các văn bản luật, cũng như phát hiện và xử lý các vi phạm luật từ các quyết định và văn bản cấm hành động. Nó cũng đóng góp vào việc thiết lập cơ chế "kiểm tra và cân bằng" nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Mục tiêu của cơ chế này được đảm bảo rằng không có lực lượng nhánh nào sử dụng ưu thế quá lớn và bảo vệ các quyền tự do của công dân, đồng thời bảo vệ hiến pháp chế độ và các giá trị xã hội.

(2) Nguyên tắc cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

Nguyên tắc cơ bản trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là sự chỉ đạo và định hướng cơ bản, đồng thời phản ánh mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực cũng như các quy luật phát triển khách quan ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền trên lãnh thổ của chúng ta. Như vậy, trên cơ sở khái niệm được đưa ra và các quy luật khách quan đang tồn tại ở Việt Nam (về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, lịch sử - truyền thống,...) đồng thời phân tích các quan hệ xã hội - pháp lý đang hình thành trong giai đoạn phát triển của xã hội Việt Nam đương đại, cho phép xác định các nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước sau đây: Thứ nhất, để hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước cần phải đặt nền tảng trên các tư tưởng pháp lý tiến bộ, tuân theo các nguyên tắc cơ bản được thừa nhận và rộng rãi công nhận; Thứ hai, việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước cần phải hướng tới mục tiêu bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của con người và công dân một cách hiệu quả; Thứ ba, việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước cần phải thực hiện thông qua các cơ chế dân chủ và công khai, nhằm đảm bảo rằng ý chí của nhân dân được thể hiện đầy đủ nhất; Thứ tư, để hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, cần tiến hành một phân tích khách quan, có căn cứ và đảm bảo thuyết phục về các quan hệ xã hội hiện tại và tiềm năng phát triển trong xã hội; Thứ năm, dựa trên sự tổng hợp các luận điểm chính trị và khoa học pháp lý về quyền lực của Việt Nam thì việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước vô cùng cấp bách; Cuối cùng, cần thực hiện một loạt các biện pháp cụ thể và toàn diện.

(3) Mục tiêu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

Một là, nhà nước kiểm soát quyền lực hoàn thiện cơ chế cần đóng góp vào việc tăng cường ý thức pháp luật và đảm bảo sự nhất quán trong cộng đồng và xã hội. Điều này giúp nâng cao hiểu biết về luật pháp và đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả của luật pháp. Phân chia quyền lực thành các nhánh khác nhau cũng giúp cân bằng và kiểm tra lẫn nhau, ngăn chặn việc quá trình tập trung quyền lực.

Hai là, sự độc lập của hệ thống tư pháp là điều cần thiết để đảm bảo quyền lực nhà nước khuyến pháp luật và Hiến pháp. Giải pháp cần hoạt động độc lập, không bị ảnh hưởng bởi áp dụng chính trị hay có thể đọc từ các cơ quan khác, để đảm bảo quyết định dựa trên luật pháp và chính nghĩa.

Ba là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực làm cho quyền lực nhà nước thực sự phản ánh ý chí của Nhân dân và bồi thủ tối đa pháp luật. Điều này đòi hỏi tôn trọng và khoáng thủ các quy định, đồng thời bảo vệ quyền lợi và tự do của công dân thông qua hệ thống tư pháp công minh và độc lập.

(4) Mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực khi thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

Mối quan hệ hài hòa và cân bằng giữa quyền lập pháp và quyền tư pháp được hình thành thông qua cơ chế kiểm soát và cân bằng dựa trên các quy định của Hiến pháp. Mỗi cơ sở thực hiện chức năng và thẩm quyền của mình đều tạo ra một mối quan hệ tự nhiên, có thể thực hiện qua ba khía cạnh chính. Thứ nhất, cơ chế này tạo ra sự cân bằng giữa quyền lập pháp và quyền tư pháp thông tin qua việc thiết lập và duy trì mối liên hệ này bằng các quy định Hiến pháp. Hai nhánh quyền lực này, mặc dù có trách nhiệm riêng, thường phải làm việc cùng nhau để đảm bảo sự ổn định trong xã hội và ngăn chặn việc lấn át quyền lợi của nhau. Thứ hai, mối liên hệ giữa quyền lập pháp và quyền tư pháp thường được thể hiện thông qua sự hài hòa và cân bằng. Nếu một văn bản luật vi phạm Hiến pháp, nó sẽ bị hủy bỏ. Cơ chế này cũng đảm bảo kiểm soát Quốc hội đối với hoạt động của quyền tư pháp thông qua các biện pháp như tham gia vào công tác nhân sự và xây dựng cơ cấu tổ chức. Thứ ba, tính minh họa trong mối liên hệ giữa quyền lập pháp và quyền tư pháp có thể được thực hiện qua tổ chức và thực thi các quy định của pháp luật. Mối quan hệ này đã được chứng minh qua nhiều thế kỷ, với sự phân phối tốt và thống nhất quyền lực trong xã hội.

3. Thực trạng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam

Trong hệ thống chính trị, quyền lập pháp đại diện cho ý chí tổng thể của quốc gia. Quốc hội là cơ quan được hình thành thông qua bầu cử để đại diện cho dân chúng và giám sát các hoạt động của Nhà nước. Cơ chế kiểm soát quyền lập pháp bao gồm việc thiết lập, bỏ qua và xem xét việc thực thi các quy định pháp luật, cũng như việc giám sát các cơ quan nhà nước. Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện quyền lập pháp, đảm bảo tính pháp chế độ cao nhất và bảo vệ quyền lợi của dân và công dân. Hoạt động thiết lập được tiến hành một chất lượng, với sự tham gia và ý tưởng xây dựng từ các cơ sở được xác định và thẩm định, đảm bảo tính độc lập và khách quan. Quy trình lập pháp bao gồm quy định nghiêm khắc của Hiến pháp và chính sách của Đảng, đồng thời đảm bảo sự minh bạch và phản ánh chính xác ý chí của nhân dân.

Điều 94 của Hiến pháp 2013 xác định vai trò của phủ Chính là cơ quan hành chính cao nhất của Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Quyền hành pháp có nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức và thực thi pháp luật, đảm bảo bồi dưỡng cho mọi người dân và tổ chức theo quy định của Hiến pháp và luật. Tuy nhiên, để đảm bảo công bằng, minh bạch và hiệu quả của quá trình hành pháp, cơ chế kiểm soát quyền hành pháp ra đời, bao gồm các cơ chế, phương thức và nguyên tắc để nhận biết, kiểm soát và điều chỉnh quyền hành động. Trong tổ chức thực thi quyền lực nhà nước, Chính phủ đóng vai trò trò chơi trung tâm có quyền kiểm soát việc thực hiện quyền lực của cả các cơ quan lập pháp và tư pháp, bao gồm việc kiểm soát hệ thống các cơ quan hành chính địa chỉ phương. Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát này vẫn chưa đạt đến mức độ mạnh mẽ và hoạt động hiệu quả, với nhiều "lỗ hổng" cần được nghiên cứu và điều chỉnh thông qua các biện pháp cụ thể để Chính phủ phủ có khả năng kiểm tra quyền lực của mình đối với quá trình lập pháp và tư pháp.

Trong hệ thống chính trị và pháp lý của Việt Nam, vai trò của Quốc hội và Chính phủ khác biệt với vai trò của cơ quan tư pháp. Cơ quan tư pháp hoạt động dựa trên nguyên tắc độc lập và bồi dưỡng pháp luật, đặc biệt trong việc thực thi quyền xét xử, được ủy thác cho Tòa án. Việc xét xử quyền của Tòa án được hạn chế để bảo vệ tính pháp lý và công bằng. Cơ chế kiểm soát quyền tư pháp là tổ chức các quy tắc được quy định trong Hiến pháp, bao gồm giám sát và quản lý nhân sự của Quốc hội, cùng với hệ thống luật giám sát hoạt động tư pháp. Mặc dù có các quy định chi tiết, nhưng việc thực hiện cơ chế kiểm soát này trong thực tế không phải lúc nào cũng dễ dàng thiếu đầy đủ các cơ chế, điều kiện và ý thức của các liên kết bên trong.

4. Quan điểm của Đảng về hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

Vấn đề về quyền lực nhà nước và việc kiểm soát quyền lực nhà nước đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Quyền lực của nhà nước là một khía cạnh đa chiều, với một phía là yếu tố không thể thiếu để tổ chức và quản lý xã hội, nhưng đồng thời cũng mang theo nguy cơ về chuyên quyền, độc đoán, và thiếu sự phản ánh đúng ý chí của nhân dân - những người là chủ thể của quyền lực nhà nước.Ý thức được điều này, Đại hội XIII và Nghị quyết số 27-NQ/TW của Đảng đề ra các quan điểm về việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực đã được đề cập, bao gồm: việc kiểm soát quyền lực được thực hiện bên trong bởi các cơ quan có thẩm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp với sự kiểm soát lẫn nhau; cũng như cơ chế kiểm soát quyền lực bên ngoài do các chủ thể không phải là nhà nước thực hiện, trong đó vai trò kiểm tra và giám sát của nhân dân được coi là quan trọng nhất. Cần duy trì xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong hệ thống quản lý nhà nước là một mục tiêu quan trọng tiếp tục được thúc đẩy. Để đảm bảo kiểm soát quyền lực nhà nước, cần tiếp tục phát triển và hoàn thiện hệ thống tổ chức kiểm soát. Hoàn thiện cơ chế để các thiết chế thực hiện kiểm soát quyền lực bên ngoài bộ máy nhà nước. Việc kiểm soát quyền lực từ bên ngoài nhà nước được hiểu là việc quản lý bởi các tổ chức không mang tính quyền lực. Các tổ chức này được ủy quyền bởi nhân dân, là nơi tập hợp ý kiến và mong muốn của công dân, hoạt động dựa trên nguyên tắc và quy định. Tăng cường kiểm soát quyền lực của Đảng đối với Nhà nước. Để nâng cao kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động xây dựng luật, Đảng cần tăng cường lãnh đạo và có thể củng cố quan điểm của mình. Trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước, phát huy vai trò của nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất. Điều này có thể thực hiện theo sự quyết định của Đại hội XIII của Đảng, khẳng định cần tiếp tục cơ chế và hoàn thiện hệ thống thực thi dân chủ, phù hợp với tinh thần của Cương lĩnh vực xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Hiến pháp 2013 đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đề xuất việc tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Quyền lực nhà nước được kiểm soát từ bên ngoài thông qua sự tham gia của nhân dân vào các quyết định và giám sát quá trình thực hiện, cùng làm việc quy định và thực hiện giám sát xã hội của Mặt trận quốc gia và các tổ chức chính trị - xã hội, đảm bảo tính hiệu quả. Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách giúp nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan công quyền và quy trình chính sách của nhà nước.

5. Giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

(1) Hoàn thiện cơ chế phối hợp và phân công giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Từ khiá cạnh kiểm soát quyền lực, việc định rõ giới hạn hoạt động lập pháp của Quốc hội và điều hành của Chính phủ không chỉ là một bước quan trọng trong việc củng cố hệ thống chính trị, mà còn là cơ sở để hiểu sâu hơn về quan hệ quyền lực giữa các cơ quan chính trị. Điều này đặt ra những vấn đề cụ thể liên quan đến phạm vi trách nhiệm của Quốc hội và vai trò của Chính phủ trong quản lý và thực thi chính sách. Thứ nhất, Quốc hội - cơ quan lập pháp - đóng vai trò quan trọng trong việc biểu đạt ý chí của nhân dân và thực hiện chính sách được xác định bởi Đảng thông qua việc lập pháp. Vai trò này đòi hỏi Quốc hội phải là nơi tập trung ý kiến và mong muốn của cộng đồng nhân dân, đại diện cho nhân dân trong quá trình xây dựng và thẩm định pháp luật. Thứ hai, việc xác định rõ ràng ranh giới lập pháp là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự độc lập và tính chủ động của hệ thống tư pháp. Cơ quan lập pháp cần phải tôn trọng thẩm quyền của cơ quan tư pháp và không can thiệp vào quá trình phán quyết của tòa án. Việc đặt ra các giới hạn cụ thể cho quyền lập pháp không chỉ là vấn đề về tính minh bạch và tính pháp lý của các quyết định và hành vi trong hành pháp, mà còn là yếu tố quan trọng.

(2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

Đối với lập pháp, việc tăng cường khả năng giám sát của Quốc hội thông qua một loạt các giải pháp cụ thể và giám sát hoạt động chức năng một cách cẩn thận và toàn diện. Các giải pháp bảo vệ bao gồm việc hoàn thiện cơ chế pháp lý liên quan đến hoạt động giám sát, bổ sung các quy định liên quan đến các chủ thể, đối tượng, nội dung và giám sát hình thức, nâng cao năng lực của các cơ sở quan và các đại biểu Quốc hội, đảm bảo các điều kiện để tăng cường hiệu quả của hoạt động giám sát và tăng cường khả năng tham khảo và tư vấn từ các tổ chức, cá nhân và chuyên gia. Điều này nhằm mục đích củng cố khả năng giám sát của quốc hội và nâng cao chất lượng của pháp luật hoạt động và giám sát.

Đối với hành pháp, đổi mới và hoàn thiện các phương thức kiểm tra, giám sát và thanh tra trong hệ thống các cơ quan hành pháp, cũng như cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính và thanh tra. Để thực hiện được điều này, cần thực hiện nhiều nhiệm vụ cụ thể: Cải thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và thanh tra nội bộ của hệ thống hành động chính theo từng ngành, đồng thời thúc đẩy việc cải thiện hệ thống pháp luật liên quan để nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra; Hoàn thiện cơ chế kiểm soát trong hệ thống hành chính nhà nước, bao kiểm soát bao gồm kiểm soát các cơ quan trực thuộc cấp Trung ương và địa phương, đình chỉ thi hành quyết định không đúng pháp luật; Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, thanh tra liên ngành đối với các cơ quan nhà nước, bằng cách thực hiện kiểm tra và thanh tra đa ngành đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể như kinh tế, đất đai, môi trường và tài chính.

Đối với tư pháp, tối ưu hóa cách tổ chức kiểm tra và giám sát. Điều này bao gồm toàn bộ các phương thức và cách thức tổ chức kiểm tra và giám sát. Những tổ chức chịu trách nhiệm là các cơ quan và tổ chức không thuộc hệ thống tư pháp, cùng với các nhân viên không phải là cán bộ tư pháp. hoàn thiện hệ thống pháp luật. Điều này bao gồm việc xây dựng các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động kiểm tra và giám sát trong lĩnh vực tư phá. Yếu tố này có tính chất “là môi trường pháp lý” là các chủ thể bị ràng buộc trong khuôn khô pháp luật. Cũng như các chủ thể bị kiểm tra, giám sát phải chịu sự kiểm tra, giám sát khắt khe. Mối quan hệ giữa các bên tham gia vào quá trình kiểm tra và giám sát, bao gồm người kiểm tra hoặc giám sát, và đối tượng của sự kiểm tra hoặc giám sát. Đây là khía cạnh hành vi phản ánh mối quan hệ pháp lý giữa các bên trong bối cảnh thực tế của việc kiểm tra và giám sát. Yếu tố này bao gồm tất cả các hoạt động của cơ chế pháp lý liên quan đến việc kiểm tra và giám sát hoạt động tư pháp. Trong số đó, việc thực hiện các nhiệm vụ pháp lý như trách nhiệm chính trị, kỷ luật nhà nước, hành chính, bồi thường dân sự và hình sự.

(3) Hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp

Đại hội XIII và Nghị quyết số 27-NQ/TW đã xác định trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần có cơ chế bảo hiến và trao quyền quy định về cơ chế bảo hiến cho Quốc hội. Việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế pháp luật để thi hành là nhiệm vụ quan trọng, cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: Thứ nhất, bảo đảm tính độc lập và chuyên trách của cơ quan bảo vệ Hiến pháp. Bảo vệ hiến pháp đồng nghĩa với việc bảo vệ chủ quyền của nhân dân, bảo vệ chế độ chính trị và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, việc bảo vệ hiến pháp là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, cần được thực hiện bởi một tổ chức đặc biệt - cơ quan bảo hiến. Thứ hai, đồng bộ, nhất quán các quy định về bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo hiến cần thiết phải có luật để điều chỉnh các quan hệ pháp lý phát sinh trong quá trình thể chế hóa, cụ thể hóa các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp. Luật về cơ chế bảo hiến cần bao gồm các điều khoản chi tiết về: quy trình thành lập và hoạt động của cơ quan bảo hiến; chức năng, thẩm quyền và cơ cấu tổ chức của cơ quan bảo hiến; phương pháp và thủ tục tiến hành các hoạt động bảo hiến; biện pháp pháp lý mà cơ quan bảo hiến có thể áp dụng đối với các đối tượng đã làm trái quy định Hiến pháp. Ngoài ra, cơ chế bảo hiến cần tuân thủ các quy định và quy tắc nội bộ của cơ quan bảo hiến trong việc tổ chức và vận hành. Cuối cùng, cần điều chỉnh hình thức hoạt động cơ chế bảo hiến để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cơ quan bảo vệ Hiến pháp. Để đảm bảo hiệu quả trong việc bảo vệ Hiến pháp, đặc biệt là trong việc phán quyết và xử lý các văn bản, hành vi vi phạm Hiến pháp liên quan đến tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, cơ chế bảo hiến phải tổ chức và hoạt động theo cách riêng biệt, khác với phương thức của các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cơ quan bảo vệ Hiến pháp cần được tổ chức một cách chuyên nghiệp và độc lập, kết hợp giữa yếu tố chính trị và pháp lý.

Bùi Thị Hương Giang

(Học viện Hành chính Quốc gia)

Tài liệu tham khảo:

[1] Quốc hội (1959), Hiến pháp năm 1959

[2] Quốc hội (1980), Hiến pháp năm 1980

[3] Quốc hội (1992), Hiến pháp năm 1992

[4] Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013

[5] Quốc hội (2014), Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014

[6] Quốc hội (2015), Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015

[7] Quốc hội (2015), Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015

[8] Quốc hội (2015), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015

[9] Đại hội Đại biểu toàn quốc (2021), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

[10] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới

[11] PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

[12] GS.TS Trần Ngọc Đường (2011), Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia.

[13] GS.TS Trần Ngọc Đường (2012), Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, NxB Chính trị Quốc gia.

[14] Dương Xuân Ngọc (chủ biên) (1999), Chính trị học đại cương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[15] Viện Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Tập bài giảng Chính trị học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.

[16] Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê (Chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Hà Nội - Đà Nẵng.