26/08/2026 lúc 15:48 (GMT+7)
Breaking News

Đổi mới phương thức quản trị, nâng cao hiệu quả liên kết vùng trong giai đoạn mới

Liên kết vùng ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng trong tổ chức không gian và phân bổ nguồn lực phát triển. Trong giai đoạn mới, cần đổi mới phương thức quản trị, vượt qua giới hạn địa giới, ngành, lĩnh vực và nhiệm kỳ để phát huy lợi thế bổ trợ, tạo sức mạnh chung và nâng cao hiệu quả phát triển.
Làm rõ yêu cầu liên kết vùng trong tổ chức không gian phát triển.

I. LIÊN KẾT VÙNG – YÊU CẦU TẤT YẾU TRONG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN

Hoạt động kinh tế - xã hội ngày càng diễn ra trên những không gian rộng hơn phạm vi quản lý của một địa phương. Chuỗi sản xuất có thể trải dài qua nhiều tỉnh, thành phố; hành lang giao thông kết nối các trung tâm kinh tế với cửa khẩu, cảng biển và thị trường; lưu vực sông liên quan trực tiếp đến sản xuất, đời sống dân cư và môi trường của nhiều địa bàn. Thị trường lao động, chuỗi cung ứng, mạng lưới logistics và hệ sinh thái du lịch cũng được hình thành từ những mối quan hệ kinh tế, xã hội và tự nhiên vốn không dừng lại ở ranh giới hành chính.

Trong điều kiện đó, địa giới hành chính vẫn là căn cứ cần thiết để tổ chức bộ máy và thực hiện quản lý nhà nước, nhưng không thể trở thành giới hạn của tư duy phát triển. Nếu việc hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực chủ yếu được xem xét trong phạm vi từng địa phương, các nguồn lực có tính liên vùng dễ bị khai thác phân tán, thiếu đồng bộ và không phát huy đầy đủ hiệu quả tổng thể. Đầu tư trùng lặp, kết nối hạ tầng thiếu hoàn chỉnh, cạnh tranh thu hút nguồn lực và đứt gãy chuỗi giá trị vẫn có thể xảy ra, ngay cả khi từng quyết định riêng lẻ xuất phát từ nhu cầu phát triển chính đáng của mỗi địa phương.

Xét về bản chất, liên kết vùng không phải là sự cộng gộp cơ học lợi thế của các tỉnh, thành phố, mà là quá trình tổ chức các mối quan hệ phát triển trên cơ sở phân công chức năng hợp lý, phát huy lợi thế so sánh và tăng cường khả năng bổ trợ lẫn nhau. Giá trị của vùng được tạo nên từ sự kết nối giữa nguồn lực của từng địa phương với kết cấu hạ tầng, thị trường, chuỗi sản xuất, nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và cơ chế phối hợp. Khi các yếu tố này được tổ chức trong một cấu trúc thống nhất, những lợi thế riêng lẻ có thể chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh chung của toàn vùng.

Có thể thấy rõ cơ chế bổ trợ ấy trong mối quan hệ giữa sản xuất, lưu thông và thị trường. Một địa phương có cảng biển và dịch vụ logistics nhưng không có vùng sản xuất đủ lớn; địa phương khác sở hữu nguồn nguyên liệu dồi dào nhưng còn hạn chế về chế biến và khả năng tiếp cận thị trường; trong khi một trung tâm đô thị lân cận lại tập trung nguồn nhân lực, dịch vụ tài chính, năng lực khoa học - công nghệ và sức mua. Khi được kết nối trong một chuỗi giá trị hợp lý, các nguồn lực này có thể bổ sung cho nhau, hình thành năng lực phát triển mà từng địa phương khó tạo dựng nếu hoạt động riêng lẻ. Giá trị mới của vùng vì thế được quyết định bởi chất lượng liên kết và phân công, chứ không đơn thuần bởi quy mô địa lý.

Ở Việt Nam, quan điểm phát triển vùng đã được xác lập nhất quán trong đường lối phát triển đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đặt ra yêu cầu phát triển hài hòa giữa các vùng, miền; thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện để những địa bàn còn nhiều khó khăn vươn lên. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021–2030 tiếp tục nhấn mạnh việc phát huy lợi thế của từng vùng, tăng cường liên kết nội vùng và liên vùng, kết hợp hài hòa giữa kinh tế địa phương với kinh tế vùng, đồng thời xây dựng thể chế điều phối phát triển vùng đủ mạnh.

Năm 2022, Bộ Chính trị ban hành sáu nghị quyết về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của sáu vùng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các nghị quyết tiếp tục cụ thể hóa quan điểm phát triển vùng, xác định vị trí, vai trò, tiềm năng, lợi thế và những định hướng lớn đối với từng không gian phát triển. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để hoàn thiện quy hoạch, tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Trung ương với các địa phương.

Ngày 4-4-2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch của sáu vùng thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc điều chỉnh nhằm cập nhật phạm vi, định hướng tổ chức không gian phát triển của từng vùng, đồng thời tăng cường sự thống nhất giữa Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh. Trên cơ sở đó, các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng, trung tâm vùng và những mối liên kết liên tỉnh được xác định phù hợp hơn với điều kiện phát triển mới.

Những định hướng trên cho thấy vùng ngày càng được nhìn nhận như một không gian phát triển có quan hệ hữu cơ, trong đó mỗi địa phương vừa phát huy lợi thế riêng, vừa đảm nhận những chức năng phù hợp trong cấu trúc chung. Liên kết vùng vì thế không phải là giải pháp phối hợp mang tính tình thế, mà là phương thức tổ chức phát triển nhằm hạn chế sự phân mảnh về không gian, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tạo lập năng lực cạnh tranh ở quy mô lớn hơn. Vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay là chuyển những định hướng đã được xác lập thành hệ thống quy hoạch đồng bộ, kết cấu hạ tầng liên thông, chuỗi giá trị có tính bổ trợ và cơ chế phối hợp đủ khả năng tổ chức thực hiện trên thực tế.

II. NHỮNG CHUYỂN BIẾN TRONG LIÊN KẾT VÙNG VÀ CÁC ĐIỂM NGHẼN CẦN THÁO GỠ

Liên kết vùng thời gian qua đã từng bước chuyển từ định hướng chung sang những khuôn khổ tổ chức cụ thể hơn. Các quy hoạch vùng được xây dựng, kết cấu hạ tầng liên vùng tiếp tục được đầu tư, nhiều hành lang kinh tế và chuỗi liên kết sản xuất từng bước hình thành. Năm 2023, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập các hội đồng điều phối vùng nhằm hỗ trợ việc chỉ đạo, điều hòa và phối hợp thực hiện các chương trình, dự án và hoạt động liên kết vùng. Việc hình thành các tổ chức phối hợp liên ngành này tạo thêm cơ sở để xử lý những vấn đề vượt quá phạm vi của từng địa phương, đồng thời tăng cường sự thống nhất giữa quy hoạch, đầu tư và tổ chức thực hiện.

Những chuyển biến và hạn chế của liên kết vùng có thể được nhận diện qua một số không gian phát triển tiêu biểu. Tại vùng đồng bằng sông Hồng, mối liên kết giữa Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh cho thấy tương đối rõ khả năng bổ trợ về chức năng giữa các địa phương. Hà Nội phát huy vai trò trung tâm lớn về dịch vụ, thị trường, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Hải Phòng có thế mạnh về công nghiệp, cảng biển và logistics; Quảng Ninh nổi bật với kinh tế biển, du lịch, công nghiệp và giao thương quốc tế. Hệ thống đường bộ cao tốc, cảng biển, cảng hàng không và các hành lang kinh tế kết nối những địa bàn này đã góp phần cải thiện khả năng lưu thông, mở rộng tiếp cận thị trường và tạo điều kiện hình thành không gian phát triển có sức lan tỏa lớn hơn phạm vi của từng địa phương.

Đối với vùng trung du và miền núi phía Bắc, liên kết có ý nghĩa đặc biệt trong việc khắc phục những hạn chế do địa hình chia cắt, khoảng cách xa các thị trường lớn và sự chênh lệch về điều kiện phát triển giữa các địa bàn. Kết nối nội vùng và kết nối với Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh cùng các cửa khẩu quốc tế tạo điều kiện đưa nông sản và sản phẩm công nghiệp của vùng đến các trung tâm chế biến, logistics và tiêu thụ. Sự phát triển của các tuyến giao thông liên vùng cũng mở rộng khả năng thu hút đầu tư, phát triển du lịch và khai thác hợp lý lợi thế về nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế cửa khẩu và các nguồn lực bản địa. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận những đầu mối giao thông lớn và mức độ kết nối giữa các tiểu vùng vẫn chưa đồng đều, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hạ tầng và nâng cao chất lượng liên kết kinh tế.

Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, liên kết được đặt ra trên nhiều phương diện, từ quản lý tài nguyên nước, thích ứng với biến đổi khí hậu đến tổ chức vùng sản xuất, chế biến nông sản, phát triển logistics và kết nối thị trường. Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, được phê duyệt năm 2022, là quy hoạch vùng đầu tiên được ban hành theo Luật Quy hoạch, thể hiện cách tiếp cận tích hợp đối với một không gian có quan hệ chặt chẽ về tự nhiên, kinh tế và xã hội. Việc đầu tư các tuyến giao thông trục dọc, trục ngang và phát triển vận tải đa phương thức đang tạo thêm điều kiện kết nối vùng nguyên liệu với các trung tâm chế biến, logistics và phân phối. Dù vậy, nếu thiếu sự phối hợp xuyên suốt giữa sản xuất, chế biến, lưu thông và thị trường, chuỗi giá trị nông nghiệp vẫn có thể bị phân đoạn, làm hạn chế khả năng nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm.

Những kết quả đạt được đồng thời cho thấy khoảng cách giữa liên kết được xác lập trong chủ trương, quy hoạch với liên kết trong hoạt động kinh tế trên thực tế. Kết nối hạ tầng đã có những bước tiến đáng ghi nhận, nhưng liên kết về sản xuất, khoa học, công nghệ, đào tạo nhân lực, cung ứng dịch vụ công, chia sẻ dữ liệu và phát triển chuỗi giá trị chưa phải lúc nào cũng phát triển tương xứng. Một tuyến đường có thể rút ngắn khoảng cách địa lý, song chưa tự thân tạo ra chuỗi sản xuất liên thông nếu thiếu doanh nghiệp dẫn dắt, trung tâm logistics, cơ sở chế biến, thông tin thị trường và cơ chế phối hợp ổn định giữa các địa phương.

Tính đồng bộ giữa quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và kế hoạch đầu tư cũng cần tiếp tục được nâng cao. Một phương án có thể đáp ứng nhu cầu của địa phương nhưng chưa chắc mang lại hiệu quả cao khi đặt trong tổng thể vùng. Nếu việc lựa chọn dự án thiếu sự đánh giá đầy đủ về tác động liên vùng, nguồn lực có thể bị phân tán vào những công trình có chức năng tương đồng, trong khi các mắt xích thiết yếu để kết nối vùng sản xuất, trung tâm đô thị, đầu mối logistics và thị trường chưa được đầu tư tương xứng. Việc các địa phương cùng ưu tiên những lĩnh vực hoặc dự án tương tự cũng có thể làm giảm hiệu quả phân công chức năng và hạn chế khả năng phát huy lợi thế riêng.

Một điểm cần tiếp tục hoàn thiện nằm ở cơ chế điều phối. Vùng không phải là một cấp hành chính, trong khi nhiều vấn đề về giao thông, môi trường, nguồn nước, logistics, lao động và chuỗi cung ứng vượt quá phạm vi xử lý của một tỉnh, thành phố. Các hội đồng điều phối vùng đã tạo lập khuôn khổ phối hợp cần thiết; hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc vào việc xác định rõ nhiệm vụ, đầu mối chủ trì, trách nhiệm phối hợp, nguồn lực thực hiện và quy trình báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề liên ngành, liên địa phương. Nếu thiếu công cụ tổ chức thực hiện và cơ chế xử lý những vấn đề vượt thẩm quyền, sự thống nhất về định hướng sẽ khó được chuyển hóa thành tiến độ và kết quả của các chương trình, dự án cụ thể.

Vì vậy, những điểm nghẽn của liên kết vùng không thể được lý giải đơn thuần bằng sự thiếu hụt vốn hoặc kết cấu hạ tầng. Vấn đề còn nằm ở mức độ đồng bộ giữa quy hoạch, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện; giữa yêu cầu phát triển của từng địa phương với mục tiêu chung của vùng; giữa nhu cầu phối hợp và năng lực điều phối trên thực tế. Những khác biệt giữa nơi bố trí nguồn lực, nơi trực tiếp thụ hưởng và nơi chịu tác động phát sinh cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế phân bổ chi phí, lợi ích và trách nhiệm trong các chương trình liên vùng. Khắc phục những hạn chế này đòi hỏi việc lựa chọn và tổ chức nguồn lực phải được đánh giá trên cơ sở tác động lan tỏa và hiệu quả tổng thể. Đó là điều kiện để liên kết vùng vượt ra khỏi khuôn khổ của những thỏa thuận hợp tác, từng bước trở thành năng lực phối hợp hành động và tạo lập giá trị phát triển chung.

III. ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ: TỪ PHỐI HỢP GIỮA CÁC ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN ĐIỀU PHỐI KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN VÙNG

Nếu liên kết vùng là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, đổi mới phương thức quản trị là điều kiện để chuyển yêu cầu đó thành năng lực tổ chức thực hiện. Vấn đề cốt lõi nằm ở khả năng xác định mục tiêu chung, lựa chọn đúng nhiệm vụ ưu tiên, tổ chức nguồn lực và phối hợp các chủ thể trong cùng một không gian phát triển.

Điều phối không gian phát triển vùng không đồng nghĩa với việc thiết lập thêm một cấp hành chính. Đây là phương thức tổ chức sự phối hợp giữa Trung ương, các bộ, ngành và địa phương để giải quyết những vấn đề có phạm vi tác động vượt ra ngoài địa giới của một tỉnh, thành phố. Theo quy định hiện hành, hội đồng điều phối vùng là tổ chức phối hợp liên ngành do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, thực hiện chức năng nghiên cứu, đề xuất và giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều hòa, phối hợp, đôn đốc việc triển khai các chương trình, dự án và hoạt động liên kết vùng. Đổi mới quản trị vùng, vì thế, cần được thực hiện trong khuôn khổ tổ chức nhà nước hiện hành, trên cơ sở nâng cao chất lượng phối hợp và bảo đảm đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng cơ quan.

Trước hết, quy hoạch phải phản ánh được các quan hệ chức năng của không gian phát triển. Địa giới hành chính là căn cứ để thực hiện quản lý nhà nước, nhưng hoạt động sản xuất, phát triển đô thị, logistics, du lịch, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường thường vận động trên phạm vi rộng hơn. Nếu quy hoạch tỉnh thiếu sự liên kết với quy hoạch vùng và các quy hoạch có liên quan, những không gian gắn bó chặt chẽ về kinh tế, xã hội hoặc tự nhiên có thể bị chia cắt; trong khi các dự án có chức năng tương đồng lại được bố trí ở những địa bàn gần nhau mà thiếu sự phân công cần thiết.

Tư duy theo không gian chức năng đòi hỏi xác định rõ vị trí của từng địa phương trong cấu trúc chung của vùng. Mỗi địa phương cần phát triển lợi thế riêng trên cơ sở quan hệ bổ trợ với những địa bàn khác, hạn chế việc cùng theo đuổi các mô hình phát triển tương tự. Các quyết định điều chỉnh quy hoạch sáu vùng thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 4-4-2026, tạo cơ sở cập nhật phạm vi, định hướng phát triển, các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và mối liên kết giữa Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng với quy hoạch tỉnh trong điều kiện mới.

Không gian Vùng Thủ đô Hà Nội là một ví dụ cho yêu cầu phân công chức năng và phát huy lợi thế bổ trợ. Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm được phê duyệt năm 2026 xác định Hà Nội giữ vai trò hạt nhân dẫn dắt, kết nối với các địa phương trong Vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc cùng các hành lang kinh tế quốc gia, quốc tế. Với vị thế và tiềm lực của Thủ đô, Hà Nội có điều kiện phát huy vai trò trung tâm về dịch vụ, giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các địa phương trong không gian liên kết có thể bổ trợ bằng những lợi thế về công nghiệp, logistics, nông nghiệp, du lịch, đô thị và sinh thái. Sự phân công hợp lý tạo điều kiện hạn chế đầu tư trùng lặp, mở rộng chuỗi liên kết và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của toàn vùng.

Cùng với đổi mới quy hoạch, việc lựa chọn và phân bổ nguồn lực cần được xem xét trên cơ sở tác động lan tỏa. Một dự án giao thông liên vùng, trung tâm logistics, hạ tầng số, công trình thủy lợi hoặc hệ thống xử lý môi trường thường tạo ra lợi ích vượt ra ngoài địa phương trực tiếp triển khai. Quá trình thẩm định dự án, vì vậy, cần đánh giá đồng thời hiệu quả tại chỗ, tác động đối với không gian liên kết và mức độ đóng góp vào năng lực cạnh tranh của vùng và quốc gia. Những công trình kết nối các tuyến giao thông, vùng sản xuất, trung tâm đô thị và đầu mối dịch vụ cần được nhận diện như các mắt xích của một hệ thống, thay vì được xem xét riêng lẻ theo địa bàn đầu tư.

Đánh giá hiệu quả lan tỏa cũng phải tính đến sự phân bổ chi phí, lợi ích và trách nhiệm giữa các chủ thể có liên quan. Địa phương bố trí quỹ đất hoặc nguồn lực cho một dự án liên vùng có thể không phải là nơi nhận được phần lớn lợi ích trực tiếp; trong khi những tác động về môi trường, giao thông, hạ tầng xã hội hoặc tái định cư có thể phát sinh tại nhiều địa bàn. Cơ chế đầu tư cần xác định rõ nguồn lực thực hiện, trách nhiệm đóng góp, phương thức phối hợp và biện pháp xử lý các tác động phát sinh. Đây là cơ sở để bảo đảm hài hòa lợi ích và duy trì động lực tham gia liên kết trong dài hạn.

Năng lực điều phối được thể hiện tập trung ở khả năng chuyển mục tiêu chung thành nhiệm vụ có địa chỉ thực hiện cụ thể. Do hoạt động theo cơ chế phối hợp liên ngành, hiệu quả của hội đồng điều phối vùng phụ thuộc nhiều vào chất lượng tham mưu, khả năng xác lập thứ tự ưu tiên và sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền. Mỗi chương trình, dự án liên vùng cần xác định rõ cơ quan chủ trì, đơn vị phối hợp, nguồn lực, tiến độ, kết quả dự kiến và quy trình xử lý những vấn đề vượt thẩm quyền. Đối với các nội dung chưa đạt được sự thống nhất, cần có cơ chế tổng hợp, báo cáo và trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, hạn chế tình trạng khác biệt về thứ tự ưu tiên làm ảnh hưởng đến tiến độ chung.

Trong cơ chế quản trị đó, dữ liệu là nền tảng để hình thành nhận thức chung và nâng cao chất lượng quyết định. Thông tin về quy hoạch, đất đai, dân cư, lao động, doanh nghiệp, giao thông, nguồn nước và môi trường cần được chuẩn hóa, cập nhật và kết nối theo thẩm quyền, tạo cơ sở dự báo nhu cầu, nhận diện những điểm chưa thống nhất giữa các phương án phát triển và đánh giá kết quả của chương trình liên vùng. Quá trình chia sẻ, khai thác dữ liệu phải bảo đảm đúng mục đích, đúng thẩm quyền; tuân thủ quy định về quản lý dữ liệu, an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước. Trách nhiệm của cơ quan tạo lập, cập nhật, cung cấp và khai thác dữ liệu cũng cần được xác định rõ.

Trách nhiệm giải trình phải được xác lập xuyên suốt quá trình điều phối. Mỗi chương trình hoặc dự án liên vùng cần có mục tiêu, nguồn lực, tiến độ và chỉ tiêu kết quả có thể theo dõi, kiểm chứng. Cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm tổng hợp tình hình thực hiện; các đơn vị phối hợp chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ được phân công; những khó khăn, điều chỉnh hoặc chậm tiến độ phải được báo cáo và xử lý theo thẩm quyền. Kết quả theo dõi, đánh giá cần được sử dụng làm căn cứ điều chỉnh chính sách, bố trí nguồn lực và xem xét hiệu quả của cơ chế phối hợp.

Đổi mới phương thức quản trị vùng, vì vậy, đòi hỏi bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch, nguồn lực, dữ liệu và trách nhiệm trong một cơ chế điều phối phù hợp. Đây là nền tảng để chuyển sự phối hợp giữa các địa phương thành năng lực hành động chung, phát huy lợi thế bổ trợ và bảo đảm hài hòa giữa lợi ích địa phương, lợi ích vùng với lợi ích quốc gia.

IV. LIÊN KẾT VÙNG PHẢI TẠO LẬP GIÁ TRỊ VÀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN MỚI

Hiệu quả của liên kết vùng trước hết cần được đánh giá bằng khả năng tạo ra những giá trị mà từng địa phương riêng lẻ khó hình thành. Giá trị đó có thể được thể hiện qua một hành lang kinh tế có sức cạnh tranh, một chuỗi sản xuất – logistics – phân phối vận hành thông suốt, một vùng nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, một mạng lưới du lịch có tính bổ trợ hoặc một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo dựa trên sự kết nối giữa doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và thị trường. Liên kết phát huy ý nghĩa khi những nguồn lực phân tán được tổ chức thành một hệ thống có khả năng phối hợp, bổ trợ và cùng tạo ra giá trị gia tăng.

Tháo gỡ điểm nghẽn là điều kiện cần thiết, còn đích đến của liên kết vùng là mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng suất và hình thành những lợi thế cạnh tranh mới. Một tuyến giao thông liên vùng phát huy đầy đủ giá trị khi tạo điều kiện kết nối các trung tâm sản xuất, dịch vụ, logistics, đô thị và thị trường. Vùng nguyên liệu trở thành lợi thế bền vững khi được gắn với chế biến, bảo quản, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và hệ thống phân phối. Đối với du lịch, sự gần gũi về địa lý giữa các điểm đến cần được chuyển hóa thành sản phẩm chung thông qua phối hợp xây dựng tuyến điểm, phát triển dịch vụ, truyền thông và khai thác thị trường.

Kết quả liên kết vì thế cần được nhận diện qua những chuyển biến cụ thể của hoạt động phát triển: chi phí lưu thông được tiết giảm, khả năng tiếp cận thị trường được mở rộng, chuỗi cung ứng trở nên ổn định hơn, năng lực đổi mới sáng tạo được nâng cao và giá trị gia tăng được phân bổ hợp lý giữa các chủ thể tham gia. Sự vận động của dòng vốn, hàng hóa, lao động, tri thức và dịch vụ phản ánh đầy đủ hơn chất lượng liên kết so với số lượng chương trình hoặc văn bản hợp tác. Đây cũng là cơ sở để đánh giá mức độ chuyển hóa các cam kết phối hợp thành kết quả kinh tế - xã hội trên thực tế.

Trong quá trình đó, cạnh tranh giữa các địa phương và hợp tác trong vùng cần được đặt trong quan hệ bổ trợ. Cạnh tranh lành mạnh tạo động lực cải thiện môi trường đầu tư, chất lượng quản trị, kết cấu hạ tầng và dịch vụ công. Tuy nhiên, nếu thiếu sự điều phối, các địa phương có thể cùng ưu tiên những dự án hoặc lĩnh vực tương tự, dẫn đến phân tán nguồn lực và làm giảm hiệu quả của sự phân công chức năng. Cạnh tranh vì thế cần hướng vào nâng cao chất lượng và phát huy lợi thế riêng; hợp tác có vai trò tạo quy mô, kết nối thị trường và xử lý những vấn đề vượt quá khả năng giải quyết của từng địa phương.

Yêu cầu này đòi hỏi mỗi địa phương xác định đúng vị trí và lựa chọn trọng tâm phát triển phù hợp trong cấu trúc chung của vùng. Việc đồng thời theo đuổi quá nhiều mục tiêu về công nghiệp, logistics, thương mại, du lịch và đổi mới sáng tạo có thể làm phân tán nguồn lực và làm mờ lợi thế so sánh. Phân công chức năng hợp lý tạo điều kiện để từng địa phương tập trung vào những lĩnh vực có tiềm năng, đồng thời tiếp nhận các giá trị bổ trợ từ những địa bàn khác. Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa, nếu được kết nối phù hợp, sẽ trở thành nền tảng tạo nên sức mạnh chung của vùng.

Giá trị của liên kết vùng cũng phải được xem xét trên các phương diện xã hội và môi trường. Sự phối hợp trong phát triển y tế, giáo dục, đào tạo nghề và thị trường lao động có thể mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và góp phần thu hẹp chênh lệch về điều kiện phát triển giữa các địa bàn. Phối hợp quản lý lưu vực sông, nguồn nước, chất lượng không khí, chất thải và hệ sinh thái giúp xử lý những vấn đề môi trường có phạm vi tác động liên tỉnh, liên vùng. Qua đó, lợi ích kinh tế được đặt trong mối quan hệ hài hòa với tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Một điều kiện có ý nghĩa lâu dài là bảo đảm tính ổn định, kế thừa và khả năng thích ứng trong tổ chức thực hiện. Kết cấu hạ tầng liên vùng, chuỗi sản xuất, mạng lưới đô thị và các hệ sinh thái kinh tế thường cần thời gian dài để hình thành và phát huy hiệu quả. Những chương trình liên kết vì vậy phải được đặt trong khuôn khổ quy hoạch có tầm nhìn dài hạn, gắn với lộ trình, nguồn lực và chỉ tiêu đánh giá cụ thể. Khi điều kiện phát triển thay đổi, việc điều chỉnh cần dựa trên căn cứ khoa học, đánh giá tác động và yêu cầu bảo đảm tính liên tục của chính sách. Đây là cơ sở củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư và các chủ thể tham gia vào những chương trình có quy mô vùng.

Việc tạo lập động lực phát triển mới cần có sự tham gia phù hợp của Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và cộng đồng. Nhà nước giữ vai trò hoàn thiện thể chế, định hướng quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu và bảo đảm cơ chế điều phối. Doanh nghiệp tổ chức các chuỗi sản xuất, đưa nguồn lực vào lưu thông và chuyển lợi thế của vùng thành sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh. Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo cung cấp tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực; cộng đồng địa phương tham gia tạo lập, thụ hưởng và phản hồi đối với những giá trị phát triển. Sự phối hợp giữa các chủ thể giúp liên kết vùng trở thành quá trình vận động của toàn bộ không gian kinh tế - xã hội, thay vì chỉ giới hạn trong quan hệ hợp tác giữa các cơ quan quản lý.

Vượt qua chia cắt không có nghĩa làm mờ vai trò, thẩm quyền hoặc trách nhiệm của từng địa phương. Vấn đề đặt ra là xác định đúng vị trí của mỗi địa phương trong một chỉnh thể phát triển rộng lớn hơn, nơi lợi thế riêng được phát huy và những hạn chế được bù đắp thông qua liên kết. Khả năng phối hợp giữa quy hoạch, nguồn lực, hạ tầng, dữ liệu và các chủ thể tham gia sẽ quyết định mức độ chuyển hóa tiềm năng của từng địa phương thành giá trị chung của vùng.

Từ nền tảng đó, sự khác biệt giữa các địa phương không còn dẫn đến phân tán nguồn lực, mà có thể trở thành điều kiện để bổ trợ và cùng phát triển. Giá trị sâu xa của liên kết vùng nằm ở khả năng chuyển các lợi thế riêng lẻ thành sức mạnh chung, mở rộng dư địa phát triển và tạo lập những động lực tăng trưởng mới. Đây là yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả tổ chức không gian phát triển, củng cố năng lực cạnh tranh của từng vùng và đóng góp thiết thực vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới./.

ThS, Nguyễn Bình Dương