Hoàn thiện chiến lược, đáp ứng yêu cầu phát triển giai đoạn mới
Ngày 15/10/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1989/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 460/QĐ-TTg ngày 14/4/2022 về phê duyệt Chiến lược nợ công đến năm 2030. Những điều chỉnh lần này hướng tới việc gắn kết chặt chẽ hơn giữa quản lý nợ công với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu cơ cấu lại ngân sách nhà nước và định hướng huy động nguồn lực cho giai đoạn phát triển mới.
Theo đó, Chiến lược tiếp tục quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công nhằm bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững; đồng thời cập nhật các định hướng tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 và các nghị quyết liên quan của Quốc hội, Chính phủ.
Điểm xuyên suốt là bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, chỉ chi trong khả năng của nền kinh tế và chỉ vay trong khả năng trả nợ. Nợ công được xác định tiếp tục là một công cụ tạo nguồn lực cho phát triển, nhưng việc huy động và sử dụng vốn phải đặt trong khuôn khổ an ninh tài chính quốc gia, phù hợp với năng lực hấp thụ vốn và khả năng tạo ra giá trị kinh tế - xã hội.
Đáng chú ý, Chiến lược duy trì định hướng lấy nguồn vay trong nước làm nền tảng, giữ vai trò cơ bản, quyết định; đồng thời kết hợp hiệu quả với nguồn vay nước ngoài. Cách tiếp cận này hướng tới sự chủ động trong huy động vốn, hạn chế những rủi ro có thể phát sinh từ biến động thị trường quốc tế và điều kiện vay vốn bên ngoài.
Kiểm soát các ngưỡng an toàn, giữ vững kỷ luật tài khóa
Trong giai đoạn 2026–2030, Chiến lược đặt yêu cầu kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước theo mức được Quốc hội phê duyệt trong dự toán ngân sách hằng năm và kế hoạch tài chính quốc gia, vay, trả nợ công 5 năm. Các chỉ tiêu an toàn nợ công phải được duy trì trong giới hạn cho phép.
Cụ thể, nợ công hằng năm không quá 60% GDP; nợ Chính phủ không quá 50% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 25% tổng thu ngân sách nhà nước; nợ nước ngoài hằng năm của quốc gia không quá 50% GDP.
Các ngưỡng này là cơ sở quan trọng để định hướng quyết định vay, phân bổ nguồn lực và tổ chức trả nợ. Tuy nhiên, bảo đảm an toàn nợ công không chỉ là duy trì các tỷ lệ trong giới hạn quy định, mà còn đòi hỏi đánh giá thường xuyên chất lượng danh mục nợ, chi phí huy động vốn, kỳ hạn trả nợ và khả năng chống chịu trước những biến động bất lợi.
Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư phát triển lớn, yêu cầu đặt ra là phải hài hòa giữa mục tiêu huy động đủ nguồn lực và duy trì dư địa tài khóa. Nếu vốn vay được sử dụng đúng trọng tâm, tạo thêm năng lực sản xuất, cải thiện hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng, nghĩa vụ nợ sẽ có cơ sở kinh tế vững chắc hơn. Ngược lại, đầu tư kém hiệu quả hoặc chậm tiến độ có thể làm gia tăng chi phí vốn và áp lực trả nợ trong tương lai.
Ưu tiên dự án trọng điểm, nâng cao hiệu quả từng đồng vốn vay
Một nội dung đáng chú ý trong quyết định sửa đổi là định hướng tập trung vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và các chương trình, dự án theo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Những dự án trọng điểm có sức lan tỏa, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo đột phá thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công tư cũng được xác định là nhóm ưu tiên.
Việc nhấn mạnh yêu cầu khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài cho thấy quản lý nợ công cần được nhìn nhận xuyên suốt từ khâu huy động vốn đến lựa chọn dự án, tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả đầu tư. Hiệu quả sử dụng vốn vì thế không chỉ phụ thuộc vào điều kiện vay, mà còn gắn với chất lượng chuẩn bị dự án, năng lực quản lý tiến độ và trách nhiệm của các chủ thể liên quan.
Đối với vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài, Chiến lược yêu cầu gắn việc huy động với khả năng trả nợ dài hạn, ưu tiên hạ tầng then chốt và lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao. Việc lựa chọn nguồn vốn, điều kiện vay phải phù hợp, bảo đảm hiệu quả sử dụng.
Cùng với đó, hoạt động vay, trả nợ của chính quyền địa phương cần được quản lý chặt chẽ, tuân thủ hạn mức dư nợ theo quy định, bố trí nguồn trả nợ đầy đủ, đúng hạn và chủ động kiểm soát rủi ro. Các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh cũng phải nằm trong hạn mức, được xem xét trên cơ sở hiệu quả và khả năng tạo nguồn thu trả nợ.
Hiện đại hóa quản trị nợ, tăng tính minh bạch và chủ động
Quyết định số 1989/QĐ-TTg đồng thời nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý nợ công, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và các lĩnh vực liên quan. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan nâng cao chất lượng thống kê, cơ sở dữ liệu về nợ nước ngoài tự vay, tự trả; nghiên cứu định hướng đổi mới khung chính sách quản lý loại hình nợ này phù hợp với điều kiện kinh tế và yêu cầu an toàn nợ quốc gia.
Một định hướng khác là quản lý nợ công thống nhất, chủ động, an toàn, bền vững; điều hành các chỉ tiêu rủi ro danh mục nợ Chính phủ theo thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn Việt Nam. Việc gắn kết quản lý ngân sách với quản lý ngân quỹ nhà nước được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính, bảo đảm khả năng thanh khoản của Chính phủ.
Cơ chế huy động vốn cũng cần linh hoạt về công cụ, hình thức, kỳ hạn, thời điểm và khối lượng vay trong năm, phù hợp với diễn biến thị trường và nhu cầu ngân sách. Cách tiếp cận này giúp giảm áp lực huy động vốn, chủ động dự phòng trước những thời điểm thị trường không thuận lợi, đồng thời hỗ trợ duy trì sự ổn định của thị trường trái phiếu Chính phủ.
Đặc biệt, Chiến lược đặt mục tiêu phấn đấu đưa Việt Nam sớm đạt mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia thuộc nhóm đầu tư, tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia đến năm 2030. Đây không chỉ là mục tiêu về vị thế tín nhiệm, mà còn liên quan đến khả năng tiếp cận nguồn vốn, chi phí huy động và niềm tin của các nhà đầu tư đối với triển vọng kinh tế Việt Nam.
Có thể thấy, việc điều chỉnh Chiến lược nợ công đến năm 2030 hướng tới một yêu cầu xuyên suốt: huy động vốn phải đi đôi với kỷ luật tài khóa, sử dụng vốn phải gắn với hiệu quả phát triển và mọi nghĩa vụ nợ phải nằm trong khả năng kiểm soát của nền kinh tế. Khi các nguyên tắc này được thực hiện đồng bộ, nợ công sẽ phát huy tốt hơn vai trò tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển, đồng thời góp phần củng cố nền tảng tài chính quốc gia an toàn, minh bạch và bền vững.



