05/02/2026 lúc 17:42 (GMT+7)
Breaking News

Cuộc cách mạng về thể chế ở Việt Nam: Tầm nhìn cho kỷ nguyên phát triển mới

Hội nghị Thượng đỉnh Chính phủ Thế giới 2026 (World Governments Summit - WGS 2026) diễn ra từ ngày 03-05/02/2026 tại Dubai, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, với chủ đề “Shaping Future Governments” - Định hình các Chính phủ tương lai. Đây là một trong những diễn đàn chính trị - quản trị lớn nhất thế giới, quy tụ các nguyên thủ quốc gia, bộ trưởng, lãnh đạo các tổ chức quốc tế, giới học giả và cộng đồng doanh nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm chia sẻ tầm nhìn chiến lược, chính sách và giải pháp thực thi trong bối cảnh thế giới đang chuyển đổi sâu sắc.

PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới 2026

VNHN trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới 2026 “Định hình Chính phủ tương lai” - UAE.

Kính thưa Ngài Chủ tọa,

Kính thưa các nhà lãnh đạo, các chính khách, học giả và quý đại biểu,

Trong một thế giới đang trải qua những chuyển động nhanh, sâu và khó đoán định - từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đứt gãy chuỗi cung ứng, chuyển dịch mô hình tăng trưởng cho đến thách thức an ninh phi truyền thống - câu hỏi trung tâm của quản trị quốc gia hôm nay không chỉ là làm sao để tăng trưởng nhanh hơn, mà sâu xa hơn là quản trị như thế nào để phát triển bền vững, bao trùm và không bị bỏ lại phía sau.

Từ Việt Nam, chúng tôi xin chia sẻ một trải nghiệm cốt lõi: cải cách thể chế không chỉ là cải cách kỹ thuật quản lý, mà là lựa chọn chiến lược về con đường phát triển, để mở ra một kỷ nguyên phát triển mới của quốc gia.

1. Ngã rẽ lịch sử: khi cải cách trở thành mệnh lệnh phát triển

Việt Nam bước vào năm 2026 với những con số ấn tượng: quy mô GDP đạt 514 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người trên 5.000 USD/năm. Không chỉ đứng trong nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, Việt Nam còn gia nhập nhóm các các quốc gia có thu nhập trung bình cao.

Nhưng chính tại thời điểm này, chúng tôi cũng nhìn thấy rất rõ một ngã rẽ mang tính cấu trúc: Hoặc là bứt phá để trở thành nước phát triển, hoặc bị kẹt lại trong “bẫy thu nhập trung bình” khi các động lực tăng trưởng truyền thống từ lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên tài nguyên và đầu tư vốn đã dần tới hạn. Việt Nam chỉ còn một thập niên cuối của thời kỳ “dân số vàng”. Trong khi đó thế giới chuyển động ngày càng nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng và các cú sốc toàn cầu ngày càng khó dự báo.

Việt Nam sở hữu một loại “vốn chiến lược vô hình”: sự ổn định chính trị, đồng thuận cao và niềm tin của hơn 100 triệu dân vào con đường cải cách. Chính nguồn “vốn xã hội” đặc biệt quý giá này đã tạo đà cho Việt Nam, vượt lên trên sự khác biệt, huy động sức mạnh tổng lực của quốc gia để thực hiện những bước đi táo bạo, thực hiện những cải cách lớn, khó và nhạy cảm. Đặc biệt là những thay đổi đụng chạm trực tiếp đến lợi ích, tới bộ máy, tới con người và thói quen quản trị lâu đời.

Chính trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 01/2026) là dấu mốc mở đầu cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Việt Nam lựa chọn con đường đổi mới mô hình tăng trưởng, phấn đấu từ năm 2026 đạt tốc độ tăng trưởng hai con số (trên10%), với điều kiện tiên quyết là phải đột phá mạnh mẽ về thể chế - thể chế kiến tạo phát triển, tư duy quản trị và năng lực thực thi.

2. Cải cách thể chế: nền tảng dẫn dắt chuyển đổi

Tầm nhìn về cải cách thể chế của Việt Nam được xác lập trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và cụ thể hóa qua chín nghị quyết chiến lược then chốt, định hình thể chế phát triển cho kỷ nguyên mới.

Để hiện thực hóa tầm nhìn về một kỷ nguyên phát triển mới, cải cách thể chế không chỉ dừng lại ở những điều chỉnh kỹ thuật mà phải là một cuộc cách mạng về tư duy vận hành. Việt Nam tập trung thiết kế một chiến lược tổng thể và hệ thống nhằm tạo đột phá và hệ sinh thái phát triển mới: lấy thể chế chính trị làm then chốt, kinh tế làm trọng tâm, đảm bảo phát triển để ổn định và nâng cao hạnh phúc nhân dân. Triết lý xuyên suốt là: Nhà nước kiến tạo - Thị trường dẫn dắt - Xã hội đồng hành - Người dân là trung tâm.

Trên nền tảng đó, Việt Nam tập trung thiết lập một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại thông qua sáu định hướng chiến lược:

Thứ nhất, thể chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo: Lấy khoa học - công nghệ và chuyển đổi số làm động lực trung tâm; xây dựng hành lang pháp lý vượt trội để nâng cao năng lực tự chủ trong nền kinh tế tri thức.

Thứ hai, thể chế hóa mô hình tăng trưởng mới: Giải phóng sức sản xuất mới dựa trên kinh tế dữ liệu, kinh tế số và chuyển đổi xanh; ưu tiên các quy định nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh quốc gia.

Thứ ba, chuyển đổi tư duy pháp lý từ “Quản lý” sang “Kiến tạo”: Thay đổi căn bản tư duy thực thi pháp luật; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo, xác lập chất lượng thể chế là lợi thế cạnh tranh cốt lõi.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế về an ninh năng lượng và chuyển đổi xanh: Hoàn thiện khung pháp lý về an ninh năng lượng và phát triển bền vững; coi việc đáp ứng các tiêu chuẩn xanh toàn cầu là điều kiện tồn tại tất yếu của nền kinh tế.

Thứ năm, gắn cải cách thể chế với hội nhập quốc tế sâu rộng và tự chủ chiến lược. Chủ động hội nhập sâu rộng, có trách nhiệm, song hành với việc củng cố nội lực và bảo vệ lợi ích quốc gia.

Thứ sáu, xây dựng thể chế an sinh xã hội hiện đại, bao trùm. Coi đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa và các phúc lợi xã hội là đầu tư cho tương lai, là nền tảng của phát triển bền vững và bao trùm. Các cam kết miễn học phí phổ thông, khám sức khỏe định kỳ miễn phí, đến tiến tới miễn viện phí cơ bản khẳng định cam kết rõ ràng: mọi mục tiêu phát triển đều vì hạnh phúc của người dân, mọi thành quả cải cách đều phải quay trở lại phục vụ con người.

Tất cả hợp thành một kiến trúc thể chế mới: Nhà nước kiến tạo phát triển; thị trường năng động, sáng tạo; xã hội hợp tác và giám sát; nhân dân đồng lòng, chung sức. Đây chính là đòn bẩy vững chắc để đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại và đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

3. Cải cách thể chế gắn với cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy: từ tinh gọn đến năng lực hành động

Trên nền những chuyển dịch thể chế ấy, từ cuối năm 2024, đặc biệt trong năm 2025, Việt Nam triển khai cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy với tinh thần nhất quán: tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Chúng tôi thực hiện đồng thời cải cách trong toàn hệ thống chính trị, cả ở trung ương và địa phương.

- Ở Trung ương, Chính phủ giảm từ 22 bộ còn 17 bộ (giảm 22,7%); tinh gọn bộ máy bên trong các cơ quan, đơn vị.

- Ở địa phương: chuyển đổi từ mô hình chính quyền địa phương 3 cấp (tỉnh – huyện – xã) thành mô hình 2 cấp (tỉnh – xã). Trong đó, giảm từ 63 tỉnh, thành phố còn 34 (giảm 46%). Bỏ 696 đơn vị hành chính cấp huyện (giảm 100%). Giảm từ 10035 đơn vị hành chính xã còn 3321 (giảm 66,9%). Tinh gọn, giảm 146.839 nhân sự trong khu vực công trong năm 2025, tiết kiệm cho ngân sách nhà nước khoảng 7 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2030… song song với đó là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình.

Mục tiêu của những cải cách này, không chỉ tinh gọn bộ máy để tiết kiệm chi phí, mà để rút ngắn quá trình ra quyết định, đưa chính quyền đến gần với người dân hơn, phục vụ người dân tốt hơn, và dành nguồn lực cho phát triển và an sinh xã hội. Nhờ đó tốc độ xây dựng và hoàn thiện pháp luật được rút ngắn đáng kể; kỷ luật thực thi được siết chặt; nhiều điểm nghẽn kéo dài về đầu tư công, hạ tầng, an sinh xã hội, cải thiện môi trường kinh doanh… Tất cả các nỗ lực này đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2025 trên 8%, thuộc nhóm những nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới.

Những kết quả này không chỉ tạo ra hiệu quả kinh tế - tài chính trực tiếp, mà quan trọng hơn, đã tạo ra sự chuyển động thực chất trong văn hóa quản trị đang diễn ra ở Việt Nam, từ “quản lý, kiểm soát” sang “kiến tạo và phục vụ”. Cải cách thể chế đang trực tiếp chuyển hóa thành năng lực điều hành, niềm tin xã hội và dư địa phát triển mới.

4. Tầm nhìn 2045 và thông điệp từ Việt Nam

Từ góc nhìn quản trị công, chúng tôi cho rằng cải cách thể chế chính là đòn bẩy chiến lược quan trọng nhất để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và mở ra không gian phát triển mới. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, hùng cường, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc - nơi tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường; nơi Nhà nước vận hành trên nền tảng pháp quyền, liêm chính, kiến tạo và trách nhiệm giải trình; nơi con người thực sự là trung tâm của mọi chính sách và hạnh phúc của người dân vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển.

Từ trải nghiệm cải cách của Việt Nam, chúng tôi xin chia sẻ ba bài học có tính khái quát cho tư duy về Chính phủ tương lai:

Thứ nhất, Chính phủ tương lai không phải là Chính phủ có nhiều quyền lực hơn, mà là Chính phủ có năng lực hành động cao hơn - năng lực ra quyết định kịp thời, dựa trên dữ liệu, dựa trên đối thoại và gắn chặt với trách nhiệm giải trình.

Thứ hai, tinh gọn bộ máy không phải là thu hẹp vai trò của Nhà nước, mà là nâng cao chất lượng quản trị nhà nước - tập trung vào những lĩnh vực Nhà nước làm tốt nhất và xã hội cần nhất, thay vì ôm đồm, phân tán và kém hiệu quả.

Thứ ba, phát triển bền vững không thể tách rời công bằng xã hội và hạnh phúc con người. Tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi mọi người dân đều được hưởng thành quả, được tiếp cận dịch vụ công chất lượng và có cơ hội phát triển.

Từ những bài học đó, chúng tôi cho rằng Chính phủ tương lai không thể chỉ được thiết kế dựa trên công nghệ, mà phải được xây dựng trên ba trụ cột căn bản: pháp quyền, đạo đức công vụ và niềm tin xã hội. Công nghệ có thể làm cho Chính phủ nhanh hơn, nhưng pháp quyền và niềm tin của người dân mới làm cho Chính phủ bền vững.

Kính thưa Quý vị,

Việt Nam lựa chọn con đường cải cách khó khăn nhưng cần thiết. Chúng tôi cải cách không vì áp lực bên ngoài, mà vì khát vọng phát triển từ bên trong; không phải để trở nên khác biệt, mà để trở nên tốt hơn, hiệu quả hơn và nhân văn hơn.

Trong một thế giới nhiều biến động, chúng tôi tin rằng kinh nghiệm cải cách thể chế của Việt Nam - dựa trên ổn định chính trị, đồng thuận xã hội và quyết tâm cải cách mạnh mẽ - có thể đóng góp một góc nhìn thực tiễn và có ý nghĩa cho đối thoại toàn cầu về “Định hình chính phủ tương lai”.

Với tinh thần đó, Việt Nam mong muốn trở thành một đối tác tin cậy, có trách nhiệm, cùng cộng đồng quốc tế chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau và đồng kiến tạo những mô hình quản trị tốt hơn cho một tương lai phát triển bền vững, hòa bình và thịnh vượng cho tất cả chúng ta.

Xin trân trọng cảm ơn Quý vị đã lắng nghe.