04/05/2026 lúc 06:44 (GMT+7)
Breaking News

Con người và cơ chế

VNHN - Theo từ điển Lepetit Larousse: cơ chế: Mécanisme, có nghĩa là cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau. Từ điển tiếng Việt giải thích

VNHN - Theo từ điển Lepetit Larousse: cơ chế: Mécanisme, có nghĩa là cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau. Từ điển tiếng Việt giải thích

 

Ảnh chú thích

Cơ chế là cách thức một quá trình thực hiện, và trong cơ chế có cơ chế động và cơ chế tĩnh. Ví dụ cơ chế kế hoạch hóa, cơ chế tự túc tự cấp… là cơ chế tĩnh. Còn cơ chế quản lý, cơ chế thị trường, cơ chế tuyển dụng nhân tài… là cơ chế động. Cơ chế quản lý nhà nước là sự thống nhất giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, là sự nhất quán tác dụng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Người ta cũng xác định rằng khi có thể chế chính trị, thể chế kinh tế phù hợp thì mới tạo được nhiều cơ chế đưa đất nước đi lên. Vì vậy, trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước phải đổi mới thể chế để từ đó tạo ra những cơ chế khả thi nhất. Mặt khác, cần thấy rằng cần xác định đúng vai trò con người. Có ý kiến cho rằng: đất nước đang bước vào ngưỡng cửa của thời kỳ kinh tế tri thức, thời kỳ cách mạng công nghiệp 4G thì máy móc, công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ phần mềm sẽ giải quyết tất cả và tác động của con người chỉ là phụ. Có phải vậy không? Ngàn lần chúng ta có thể khẳng định rằng: Dù có tinh xảo đến đâu, thông minh cỡ nào thì máy móc, công nghệ cũng chỉ là vật vô tri mà chế tác và điều khiển nó vẫn là con người. Tác giả “Megtrends 2000” đã viết rằng: “chúng ta đang chết ngợp trong khối lượng thông tin, nhưng lại thiếu thốn tri thức”. Vậy đó – công nghệ thông tin đã nâng ngân hàng thông tin lên đến ngất ngây, khai thác sử dụng nó như thế nào để trở nên giàu có cho mình là việc của con người, là phần tri thức của con người. Có tác giả đã viết rằng: “Thế kỷ 21 là thời đại của bộ não con người”, nói đúng hơn là của con người có tri thức, của con người có văn hóa “Con người là hiện thân của giá trị, niềm tin và trách nhiệm của xã hội”. Thế giới đã có hàng tỷ người, nhưng có bao nhiêu người có văn hóa, có tri thức?. Đó là một câu hỏi mà lời giải là một cuộc cách mạng. Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta, con người luôn giữ vai trò then chốt. Muốn đưa đất nước tiến đến kinh tế tri thức thì đòi hỏi đầu tiên là đội ngũ con người có tri thức. Vì vậy giáo dục luôn luôn là quốc sách hàng đầu. Giáo dục phát hiện, tuyển chọn tài năng và đào tạo nên nhân tài. Nền giáo dục làm được điều này, chúng ta sẽ có lớp người, hoặc ít ra cũng thường xuyên có những con người đủ khả năng tạo nên đột biến cho đất nước. Từ xa xưa, cha ông ta đã có chính sách “Chiêu hiền đãi sĩ”. Ngày nay, việc bồi dưỡng hiền tài lại cần cấp và ưu tiên hơn. Bởi vì, nếu không có những con người có tài trí thì không thể tiếp cận và phát hiện một cách thông minh nền khoa học, công nghệ cao, và cũng không thể tạo nên những bước đột phá cho đất nước. Bước đột phá đó trước hết thể chế, là cơ chế. Thực tế qua mấy chục năm đổi mới của đất nước đã minh chứng nêu những cơ chế đúng, đất nước sẽ phát triển. Và rằng: Nếu có sự đột phá bằng cơ chế thì đất nước mới đột phá tiến lên. Lịch sử đã chứng minh rằng: Nhà lãnh đạo nào biết tập hợp những người tài và biết xây dựng những cơ chế thích hợp kịp thời, thì chắc chắn sẽ đưa đất nước thịnh hưng, sẽ làm cho dân mau giàu và nước mau mạnh. Trong thực tế cuộc sống có nhiều loại cơ chế, nhưng quan trọng hơn là ở cơ chế kinh tế, cơ chế quản lý, cơ chế vận hành đất nước. Sau gần hai mươi năm đổi mới, Đảng và Chính phủ đã tạo nên nhiều cơ chế, dù là chưa đủ và chưa hoàn chỉnh, thì những cơ chế đó đã đưa đất nước vượt qua nghèo khó, ổn định để phát triển. Tuy nhiên thế giới đang đổi thay nhanh chóng, công nghệ luôn phát triển hiện đại, nếu nước ta không đổi mới thể chế toàn diện và mạnh dạn xây dựng những cơ chế mới mang tính đột phá thì chúng ta vẫn phải đi theo đường ngang. Nền giáo dục được đổi mới thật sự, nhà trường đào tạo ra lớp trí thức biết sáng tạo, chủ động; Nhà nước có cơ chế đột phá thì nền kinh tế sẽ đột phá tiến lên. Cơ chế đó phải đảm bảo phát huy được sức mạnh của dân, mọi người làm giàu chính đáng, nhà nước hỗ trợ và chia sẻ đồng hành với doanh nghiệp. Thể chế chính trị phải tôn trọng dân chủ, để tập hợp đoàn kết sức dân, tạo nên sức mạnh từ dưới lên trên, có như vậy chắc chắn Việt Nam sẽ thịnh vượng, nhân dân sẽ hạnh phúc.

Đất nước ta đang có bộ máy quá cồng kềnh, đến hàng triệu viên chức nhưng như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói khi còn là Phó Thủ tướng: “Chỉ có 30% là đáp ứng được yêu cầu quan chức”. Trong thực tế có một lớp viên chức “Sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”, an phận, túc tắc chờ thời… Người có tài không biết chạy chọt nên không được sử dụng, kẻ bất tài cơ hội thì giỏi nói leo ăn theo, giỏi chạy, giỏi nịnh nên được bố trí những vị trí cao, chạy vào vị trí cao, tốn nhiều tiền nhưng sẽ có điều kiện “thu hồi vốn” và “cõ lãi”, thế là sinh ra tham nhũng. “Biên chế là nơi trú ẩn an toàn nhất cho kẻ cơ hội bất tài, biến họ trở thành kẻ ăn bám, đục khoét tạo ra tham nhũng. Đội ngũ con người như vậy thật sự là “Nguy cơ tồn vong của đất nước” (Lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị công tác dân vận tháng 5/2016). Vì vậy, cần mạnh dạn tinh giảm biên chế ở Trung ương và địa phương. Đất nước cần có cơ chế hợp lý về việc sử dụng con người, bằng 5 bước: tuyển chọn, đào tạo, bố trí vị trí, sử dụng và đãi ngộ. Làm được như vậy ta mới có đội ngũ nhiệt huyết, trí tuệ thực thi công vụ, sáng tạo xây dựng các cơ chế đột phá và bền vững cho đất nước. Trong đó cơ chế để huy động sức dân một lòng xây dựng đất nước là số một.

II

Tác giả muốn dẫn chứng từ thực tế dưới đây để chứng minh cho tính quyết định nhất quán của con người và cơ chế.

Trước kia, khi còn cơ chế tập trung bao cấp, hộ nông dân tham gia hợp tác xã, tổ đổi công... Họ làm không thâm canh và năng suất thấp, một nước 80% là nông nghiệp mà thiếu gạo, thiếu lương thực (?). Khi  cơ chếkhoán đến hộ nông dân ra đời thì mọi hộ nông dân đều thâm canh, họ làm và họ được hưởng trọn công sức của họ, người nông dân chăm chút ruộng vườn, suy nghĩ về cách bón phân, chọn giống, về thời vụ, thời tiết. Năng suất và sản lượng lương thực cả nước tăng lên rất nhanh. Từ những năm thiếu ăn phải nhập gạo, bột mì... Việt Nam không chỉ đủ ăn mà trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Mỗi năm có thể xuất khẩu gần 5 triệu tấn gạo. Cũng với cơ chế đó, diện tích lúa thu hẹp hơn nhưng sản lượng lương thực vẫn tăng. Người đề xuất đầu tiên ra cơ chế khoán này là của đồng chí Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú ở vùng trung du Bắc bộ hồi đó. Đề xuất của Kim Ngọc là một sự đột phá, ngày đó nhiều người không nghe cho rằng phá hỏng đường lối. Hải Phòng cũng vậy, khi Hải Phòng “Khoán chui” xé rào, thì các tỉnh xung quanh kiên quyết làm “đê chắn” không cho lây lan sang tỉnh mình. Nhưng chính từ đột phá của đồng chí Kim Ngọc, của Hải Phòng trở thành cơ chế khoán 100 của Đảng làm cho bộ mặt nông thôn thay da đổi thịt.

Cũng như vậy, những năm 1979-1980, Việt Nam vẫn mua bán theo cơ chế giá chỉ đạo Nhà nước qua hệ thống phân phối của thương nghiệp quốc doanh. Lúc đó, ở Long An cũng như cả Việt Nam, giá Nhà nước luôn thấp hơn giá thị trường 3- 4 lần (cả mua lẫn bán) nên bao nhiêu hàng bung ra cũng hết. Năm 1979, Long An cung cấp 120 triệu mét vải – số hàng này vào tay bọn đầu cơ và đẻ ra một lớp cán bộ trục lợi bất chính. Vải và các nhu yếu phẩm luôn khan hiếm. Các mặt hàng phân phối luôn ở tình trạng này. Nghĩa là người tiêu dùng luôn không mua được hàng hóa nhà nước bán ra mà phải mua qua gian thương.

Trong những năm này, nhà nước thu mua một kg gạo của nông dân chỉ 0đ32 đến 0đ35, trong khi đó giá thị trường là hai đồng rưởi đến ba đồng (giá năm 1979). Cộng vào đó, lượng tiền mặt không đủ nên việc mua lương thực rất khó. Người nông dân không muốn sản xuất vì giá bán không đủ bù chi phí. Dân huyện Bến Lức bỏ khô đốt cháy hàng trăm hecta mía không thu hoạch vì giá mua không bù đủ chi phí đốn chặt, vận chuyển... Tình hình lúc đó dẫn đến đình trệ sản xuất, khan hiếm hàng hoá giả tạo và xã hội bị bọn đầu cơ tích trữ thao túng thị trường.

Tỉnh Long An đã xin Trung ương cho thí điểm đột phá chuyển thành cơ chế một giá. Năm 1980, sau khi thực hiện bán một giá theo thị trường, cả tỉnh chỉ tiêu thụ 60 triệu mét vải, bằng 50% số vải phải cung cấp thời bao cấp. Xà phòng chỉ cần 2/3 lượng hàng cung cấp trước đây... Các nhu yếu phẩm khác cũng vậy. Dân vui vẻ, vì lúc nào cần cũng có hàng hoá. Bọn đầu cơ bị phá sản. Việc mua nông sản theo giá thị trường đã giúp tỉnh vượt chỉ tiêu 200 –300% và sản lượng nông nghiệp tăng thấy rõ. Vòng quay đồng vốn đến 1984 tăng lên 8,3 vòng. Ngân sách địa phương sau bốn năm tăng gấp 20 lần - cơ chế này là đề xuất mang tính đột phá của Long An. Sau trở thành bước đi mới của cả nước chuyển sang cơ chế một giá và tiến đến kinh tế thị trường cho cả nước.

Một ví dụ khác, khi Chính phủ thực hiện  cơ chế phát huy nội lực, bình đẳng các thành phần kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân, chỉ trong 3 năm, số Doanh nghiệp Trách nhiệm hữu hạn ra đời đã tăng lên 100.000 Công ty trên cả nước (gấp 3 lần trước đó) và tính đến nay cả nước có gần 800.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh(1) và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng góp bằng lực lượng doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cộng lại (chiếm 49% GDP), thu hút được gần 7 triệu lao động, chiếm 61% số lao động cả nước. Cơ chế này đã góp phần quan trọng tạo nên lực lượng nòng cốt quan trọng cho nền kinh tế nước nhà.

Thành phố Đà Nẵng sau giải phóng bỗng trở thành thị xã trực thuộc tỉnh Quảng Nam. Mọi hoạt động dựa vào kinh phí Trung ương cho (mỗi năm khoảng 30 tỷ bằng ngân sách công ty vệ sinh môi trường thành phố Hải Phòng). Đà Nẵng tự nhiên nhỏ bé và tiêu điều. Một con người đã dũng cảm vận động để Đà Nẵng trực thuộc Trung ương và khi được trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng chủ yếu là xin cơ chế. Con người đó là Nguyễn Bá Thanh, anh đã kiên quyết xây dựng đội ngũ cán bộ vì dân, tập hợp vận động nhân dân được nhân dân đồng tình xây dựng thành phố Đà Nẵng. Ông Nguyễn Bá Thanh xin Trung ương cho cái cần câu đó chính là cơ chế. Trong các cơ chế đó, then chốt là đổi đất lấy hạ tầng. Và chỉ sau hai nhiệm kỳ, Nguyễn Bá Thanh đã xây dựng Đà Nẵng trở nên thành phố đáng sống, là một trong bốn trung tâm kinh tế-chính trị lớn của đất nước (ba thành phố còn lại là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng). Sau khi ông ra Trung ương rồi mất, với một Bí thư mới, chỉ 3 năm “Thành phố Đà Nẵng chỉ đi xuống chứ không đi lên. Thế hệ lãnh đạo mới của thành phố chưa gương mẫu, thiếu kinh nghiệm, thiếu minh bạch, nên kỷ cương của thành phố không còn giữ được như xưa”. (Trích: Hồ Việt – Một bước ngoặc của Đà Nẵng… - Báo An ninh thế giới).

Câu chuyện Đà Nẵng kể trên càng chứng minh vai trò người đứng đầu. Bá Thanh biết đi sâu, đi sát đến tận cùng của sự việc, biết nhìn xa trông rộng, biết chinh phục lòng dân và biết quyết đoán, biết kiên quyết thực hiện những mục đích chung. Khi trao vị trí đứng đầu cho người khác không xứng tầm thì Đà Nẵng “đi xuống”. Đó là một minh chứng cho vai trò của con người và vai trò của cơ chế.

III

Ở Singapore, sau 5 tháng chấp chính (tháng 4 năm 1960), Lý Quang Diệu (năm đó 35 tuổi, là Thủ tướng Singapore) đã cho lập ngay khu công nghiệp Juhor để tạo công ăn việc làm và hàng hoá thay thế hàng nhập khẩu. Lý Quang Diệu đã có những chính sách ưu đãi tại khu công nghiệp Juhor. Lý Quang Diệu mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài với cơ chế: Singapore là một cảng tự do, khu mậu dịch tự do, thị trường tự do... Chỉ sau hai năm, đã có 100 nhà máy của nhiều nước và 1.000 nhà máy của dân trong nước đầu tư sản xuất, kinh tế Singapore khởi động. Lý Quang Diệu đã cho xây dựng nhà máy đóng tàu, xây dựng hải cảng thành cảng Container vào loại nhất nhì thế giới, 24 khu công nghiệp khác - với cơ chế thông thoáng về thuế, về dịch vụ ngân hàng, về việc cho phép các Công ty nước ngoài mở Công ty ở Singapore… Chỉ thời gian ngắn, Singapore đã lấp đầy nhà máy và Singapore trở thành xứ sở của dịch vụ và du lịch có đẳng cấp cao.

Sau 31 năm chấp chính với những cơ chế táo bạo, Lý Quang Diệu đã đưa Singapore từ một làng chài nghèo với GDP chỉ hơn 400 USD/ người trở thành “Tiểu Long” như mọi người vẫn gọi “cá hoá rồng” có GDP đứng vào hàng những nước cao hàng đầu thế giới. Trên thế giới nhiều nước rất nhỏ bé, nhiều vùng hẻo lánh nhưng khi có cơ chế tốt đặc biệt là cơ chế thuế, visa, cơ chế ngân hàng… đã trở thành những nước thịnh vượng và những vùng hẻo lánh ấy trở thành điểm đến của du lịch dịch vụ như Langkawi của Malaysia, đảo Jeju của Hàn Quốc, Công quốc Monaco, Công quốc Andora nằm trên đỉnh núi cao 3.000m, chỉ vỏn vẹn vài trăm ngàn dân nhưng là xứ sở của nhà giảu.

Nếu không có những cơ chế tốt, không có những người khai phá và quyết đoán không có đội ngũ con người tâm huyết trí tuệ sáng tạo thì không thể có  gì cả. Có thể khẳng định rằng: Sự thành hay bại của một Quốc gia phụ thuộc vào:  con người và cơ chế. Con người tạo nên cơ chế và con người sẽ thực hiện cơ chế. Có đội ngũ con người tâm huyết, tài năng, trí tuệ, vì đất nước thì sẽ có cơ chế tốt và các cơ chế đó sẽ được thực hiện có hiệu quả. Con người làm nên tất cả, con người có vai trò hàng đầu trong các quyết sách của đất nước./.