Việc xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội đang được đặt trong một bối cảnh phát triển mới, khi mô hình tăng trưởng, tổ chức bộ máy nhà nước, cơ cấu việc làm, thị trường lao động và quá trình già hóa dân số đều có những thay đổi đáng kể. Sau gần một thập niên triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 28-NQ/TW, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục điều chỉnh mức lương hay mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, mà quan trọng hơn là thiết kế một hệ thống chính sách có tính liên thông, công bằng, bền vững và thích ứng với những biến động dài hạn của nền kinh tế - xã hội.
Một bước chuyển từ “cải cách từng phần” sang tư duy hệ thống
Chiều 22/9/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, làm việc với Bộ Nội vụ về xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội. Nội dung cuộc làm việc cho thấy cách tiếp cận đối với cải cách tiền lương và bảo hiểm xã hội đang được đặt trong một khung rộng hơn, gắn với những thay đổi căn bản của mô hình phát triển đất nước.
Đây là điểm đáng chú ý. Bởi tiền lương và bảo hiểm xã hội vốn thường được nhìn nhận như hai nhóm chính sách riêng biệt: tiền lương liên quan đến thu nhập của người lao động, còn bảo hiểm xã hội liên quan đến an sinh và bảo đảm thu nhập khi người lao động gặp các rủi ro hoặc bước vào tuổi nghỉ hưu. Trên thực tế, hai chính sách có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại.
Tiền lương là cơ sở quan trọng của đời sống người lao động, đồng thời là một trong những căn cứ hình thành mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội. Khi cơ cấu tiền lương thay đổi, phương thức xác định mức đóng, quyền lợi dài hạn và cân đối các quỹ bảo hiểm xã hội cũng chịu tác động. Ngược lại, cách thiết kế bảo hiểm xã hội có thể tác động đến quyết định tham gia thị trường lao động chính thức, lựa chọn việc làm, thời gian làm việc và mức độ hấp dẫn của hệ thống an sinh.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 đã xác định tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, phải thực sự trở thành nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người hưởng lương và gia đình, đồng thời tạo động lực nâng cao năng suất lao động. Nghị quyết cũng đặt ra định hướng xây dựng hệ thống tiền lương trong khu vực công theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo.
Trong khi đó, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 xác định cải cách bảo hiểm xã hội nhằm từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ, hướng tới bảo hiểm xã hội toàn dân; xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng, linh hoạt, đa dạng, hiện đại và hội nhập quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững.
Sau gần 10 năm, những mục tiêu này vẫn giữ giá trị định hướng, nhưng điều kiện thực hiện đã thay đổi. Vì vậy, việc xây dựng Đề án mới cần được nhìn nhận không đơn thuần là “tiếp tục thực hiện” hai nghị quyết cũ mà là quá trình đánh giá lại toàn diện để xác định những nội dung đã phù hợp, những vấn đề chưa đạt yêu cầu và những vấn đề mới chưa từng được đặt ra vào năm 2018.
Đây cũng là lý do Phó Thủ tướng yêu cầu Đề án phải làm rõ cả cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn; đồng thời đánh giá sát kết quả, hạn chế và bất cập sau gần một thập niên thực hiện Nghị quyết 27 và Nghị quyết 28.
Tiền lương phải gắn với vị trí việc làm, năng suất và chất lượng bộ máy
Một trong những vấn đề cốt lõi của cải cách tiền lương là chuyển từ tư duy quản lý tiền lương chủ yếu dựa trên ngạch, bậc và hệ số sang cơ chế phản ánh tốt hơn giá trị công việc, vị trí việc làm, trách nhiệm và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Nghị quyết 27-NQ/TW đã đặt nền tảng cho định hướng này khi đề ra yêu cầu xây dựng bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo; đồng thời coi việc hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm là giải pháp căn bản, có tính tiền đề để thực hiện cải cách tiền lương.
Tuy nhiên, đây cũng là khâu khó nhất.
Muốn trả lương theo vị trí việc làm thì trước hết phải xác định được vị trí việc làm một cách thực chất. Một vị trí phải có mô tả công việc, phạm vi trách nhiệm, yêu cầu về năng lực, mức độ phức tạp, kết quả đầu ra và cơ chế đánh giá tương ứng. Nếu vị trí việc làm chỉ được xác lập trên hồ sơ tổ chức mà chưa phản ánh đầy đủ khối lượng và chất lượng công việc thì cải cách tiền lương rất dễ trở thành sự thay đổi về kỹ thuật tính toán thay vì thay đổi về chất.
Thực tế thời gian qua cho thấy việc cải cách tiền lương đã được triển khai theo hướng từng bước. Từ ngày 1/7/2024, mức lương cơ sở tăng từ 1,8 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng/tháng, tương ứng mức tăng 30%. Cùng thời điểm, Chính phủ thực hiện các chính sách điều chỉnh liên quan đến lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và một số chính sách an sinh khác.
Đây là những bước điều chỉnh có ý nghĩa trong cải thiện thu nhập danh nghĩa. Tuy nhiên, tăng mức lương cơ sở chưa đồng nghĩa với hoàn thành cải cách tiền lương theo tinh thần Nghị quyết 27. Chính Phó Thủ tướng tại cuộc họp ngày 22/9 cũng chỉ ra rằng yêu cầu trả lương theo vị trí việc làm chưa được thực hiện đầy đủ, đồng thời còn những bất cập về tương quan tiền lương giữa các nhóm đối tượng.
Điều này đặt ra yêu cầu quan trọng đối với Đề án mới: phải giải quyết đồng thời ba bài toán là trả đúng giá trị công việc, tạo động lực nâng cao hiệu quả và bảo đảm khả năng cân đối nguồn lực.
Trong khu vực công, tiền lương không chỉ là vấn đề thu nhập. Đó còn là công cụ để Nhà nước tuyển dụng, sử dụng và giữ chân nhân lực. Khi thị trường lao động ngày càng cạnh tranh, khu vực công phải có cơ chế đủ linh hoạt để thu hút những người có chuyên môn cao trong các lĩnh vực mà khu vực tư nhân có nhu cầu lớn.
Đặc biệt, quá trình tổ chức lại bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp càng làm nổi bật yêu cầu này. Khi chức năng, nhiệm vụ và phương thức vận hành của cơ quan nhà nước thay đổi, cơ cấu vị trí việc làm cũng cần được cập nhật tương ứng. Một hệ thống tiền lương mới vì thế không thể tách rời cải cách tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị công.
Nói cách khác, cải cách tiền lương không nên được hiểu đơn giản là “tăng lương”, mà là thiết kế lại cơ chế phân phối thu nhập trong khu vực công dựa trên giá trị công việc và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Bảo hiểm xã hội: mở rộng bao phủ nhưng phải giữ vững tính bền vững
Nếu tiền lương là bài toán về thu nhập và động lực lao động thì bảo hiểm xã hội là bài toán về phân bổ và bảo đảm thu nhập trong suốt vòng đời của người lao động.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, đã thể chế hóa nhiều nội dung quan trọng của Nghị quyết 28-NQ/TW, hướng tới xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng, linh hoạt, hiện đại và từng bước mở rộng diện bao phủ.
Một số thay đổi cho thấy tư duy chính sách đã dịch chuyển theo hướng mở rộng cơ hội tham gia và thụ hưởng. Luật mới mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bổ sung chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện và thiết lập trợ cấp hưu trí xã hội nhằm tăng khả năng bảo đảm thu nhập cho nhóm người cao tuổi không có lương hưu.
Đây là những bước quan trọng để thu hẹp khoảng trống an sinh. Theo thông tin của Bộ Nội vụ, ước 6 tháng đầu năm 2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội khoảng 21,70 triệu người, tăng 14,48% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện khoảng 2,65 triệu người, tăng 40,06%. Số người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng khoảng 3,55 triệu người.
Những con số này cho thấy phạm vi bao phủ đang mở rộng, song đồng thời đặt ra bài toán về chất lượng và tính bền vững của hệ thống.
Mục tiêu bao phủ càng lớn thì yêu cầu bảo đảm cân đối quỹ càng cao. Một hệ thống bảo hiểm xã hội muốn phát triển bền vững phải xử lý được quan hệ giữa số người đóng, mức đóng, thời gian đóng, số người hưởng, mức hưởng, tuổi nghỉ hưu, tuổi thọ và tốc độ biến động của thị trường lao động.
Đặc biệt, Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh. Điều đó đồng nghĩa với việc số người hưởng các chế độ dài hạn sẽ tăng trong khi tỷ lệ người trong độ tuổi lao động có xu hướng chịu sức ép từ thay đổi cơ cấu dân số.
Vì vậy, cải cách bảo hiểm xã hội trong giai đoạn tới cần tránh cách tiếp cận chỉ tập trung vào mở rộng quyền lợi trước mắt mà phải đồng thời tính toán tác động tài chính dài hạn.
Bài toán quan trọng là tạo được niềm tin vào hệ thống. Người lao động chỉ có động lực tham gia lâu dài khi họ nhận thấy mối quan hệ giữa mức đóng và quyền lợi đủ rõ ràng, chính sách ổn định và hệ thống quản lý minh bạch.
Đây cũng là lý do các nguyên tắc “đóng - hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững” được đặt ở vị trí trung tâm trong định hướng cải cách bảo hiểm xã hội.
Liên thông tiền lương - bảo hiểm xã hội để tránh những “điểm gãy” chính sách
Một trong những điểm có ý nghĩa nhất từ cuộc họp ngày 22/9 là việc nhấn mạnh mối liên thông giữa chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Nếu tiền lương được thiết kế theo một logic nhưng căn cứ đóng và hưởng bảo hiểm xã hội được xây dựng theo một logic khác, hệ thống có thể phát sinh những khoảng cách khó xử lý. Ngược lại, nếu hai chính sách được thiết kế đồng bộ, cải cách tiền lương có thể trở thành nền tảng để củng cố hệ thống an sinh dài hạn.
Mối liên thông này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thị trường lao động đang thay đổi nhanh. Bên cạnh lao động trong khu vực chính thức, ngày càng xuất hiện nhiều hình thức việc làm linh hoạt, việc làm trên nền tảng số, lao động tự do và các mô hình nghề nghiệp mới.
Phó Thủ tướng đã yêu cầu đặt cải cách tiền lương và bảo hiểm xã hội trong bối cảnh thay đổi của thị trường lao động, cơ cấu việc làm, già hóa dân số và sự xuất hiện của các hình thức việc làm mới.
Điều đó gợi mở một yêu cầu quan trọng: hệ thống an sinh tương lai phải có khả năng “đi theo” người lao động thay vì chỉ gắn với một loại hình việc làm cố định.
Người lao động có thể chuyển từ khu vực công sang tư nhân, từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, từ việc làm toàn thời gian sang việc làm linh hoạt. Quyền an sinh vì thế cần được thiết kế theo hướng có tính liên tục, giảm những khoảng trống khi người lao động thay đổi việc làm.
Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã tạo thêm một số nền tảng cho hướng đi này, nhưng quá trình thực thi và những thay đổi của thị trường lao động sẽ tiếp tục đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách.
Cải cách phải dựa trên dữ liệu và các kịch bản dài hạn
Một yêu cầu quan trọng đối với Đề án mới là chuyển mạnh từ tư duy điều chỉnh chính sách theo tình huống sang hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu và dự báo.
Theo kế hoạch được Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành, Bộ Nội vụ được giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành đánh giá toàn diện Nghị quyết 27 và Nghị quyết 28; đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và đề xuất các giải pháp phù hợp với Việt Nam. Theo lộ trình, dự thảo Đề án được hoàn thiện trong giai đoạn 8-10/2026, dự thảo Nghị quyết hoàn thiện vào tháng 1/2027 và dự kiến trình Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị lần thứ 5 vào tháng 3/2027.
Đây là khoảng thời gian không dài đối với một cuộc cải cách có tác động đến hàng chục triệu người.
Do đó, chất lượng của Đề án sẽ phụ thuộc đáng kể vào phương pháp đánh giá và xây dựng chính sách. Cần có những mô hình dự báo đủ dài hạn đối với quỹ bảo hiểm xã hội; các kịch bản về tăng trưởng tiền lương, năng suất lao động, lạm phát, việc làm, tỷ lệ tham gia bảo hiểm, tuổi thọ và cơ cấu dân số.
Đồng thời, cần đánh giá tác động chính sách theo từng nhóm đối tượng: cán bộ, công chức, viên chức; người lao động trong doanh nghiệp; lao động phi chính thức; người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; người đang hưởng lương hưu; người cao tuổi chưa có lương hưu.
Một chính sách tốt không chỉ trả lời được câu hỏi “người nào được hưởng thêm bao nhiêu”, mà phải trả lời được những câu hỏi rộng hơn: nguồn lực ở đâu, tác động đến ngân sách thế nào, tác động đến thị trường lao động ra sao, khả năng duy trì chính sách trong 10-20 năm tới thế nào và cơ chế điều chỉnh khi điều kiện kinh tế thay đổi là gì.
Việc Phó Thủ tướng yêu cầu tổ chức hội thảo tham vấn, lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan cũng cho thấy yêu cầu huy động rộng rãi tri thức chuyên môn trong quá trình hoàn thiện Đề án.
Hướng tới một hệ thống chính sách thích ứng với giai đoạn phát triển mới
Cải cách tiền lương và bảo hiểm xã hội lần này diễn ra trong một bối cảnh khác đáng kể so với năm 2018. Khi đó, trọng tâm lớn là khắc phục những bất cập của hệ thống tiền lương hiện hành và mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội. Đến nay, yêu cầu đã rộng hơn: cải cách phải đồng thời phục vụ quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tinh gọn bộ máy, phát triển nguồn nhân lực và thích ứng với già hóa dân số.
Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận chính sách có tính tích hợp. Đối với tiền lương, trọng tâm cần tiếp tục hướng tới việc phản ánh giá trị của vị trí việc làm, trách nhiệm và kết quả công việc; đồng thời bảo đảm khả năng cạnh tranh nhất định của khu vực công trong thu hút nhân lực.
Đối với bảo hiểm xã hội, trọng tâm là mở rộng bao phủ nhưng phải song hành với củng cố tính bền vững tài chính, tăng tính hấp dẫn của hệ thống và bảo đảm quyền lợi dài hạn của người tham gia.
Đối với quản trị nhà nước, cần tiếp tục số hóa dữ liệu, nâng cao năng lực dự báo, liên thông thông tin giữa tiền lương, việc làm, bảo hiểm xã hội và dân cư. Đây là điều kiện để chính sách có thể được điều chỉnh nhanh hơn trước những thay đổi của thị trường lao động.
Về lâu dài, mục tiêu của cải cách không chỉ là nâng mức thu nhập hay tăng số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội. Giá trị lớn hơn nằm ở việc hình thành một hệ thống phân phối thu nhập và bảo đảm an sinh có khả năng thích ứng với toàn bộ vòng đời lao động của người dân.
Từ góc độ đó, cuộc họp ngày 22/9/2026 không chỉ là một bước trong quá trình hoàn thiện hồ sơ Đề án. Nó cho thấy yêu cầu chuyển sang một giai đoạn cải cách mới: từ điều chỉnh từng chính sách sang thiết kế lại mối quan hệ giữa tiền lương, việc làm, năng suất, bảo hiểm xã hội và an sinh.
Nếu được xây dựng trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, đánh giá thực tiễn nghiêm túc, tham vấn rộng rãi và các kịch bản tài chính - xã hội dài hạn, Đề án có thể tạo nền tảng cho một hệ thống chính sách vừa bảo đảm quyền lợi người lao động, vừa tạo động lực phát triển nguồn nhân lực, vừa duy trì an toàn tài chính và khả năng thích ứng của hệ thống an sinh.
Trong một nền kinh tế đang chuyển đổi nhanh, cải cách tiền lương và bảo hiểm xã hội vì thế không nên được nhìn nhận như hai bài toán riêng lẻ. Đây là một cấu phần quan trọng của chiến lược phát triển con người, nâng cao năng suất và củng cố nền tảng an sinh xã hội trong giai đoạn phát triển mới.
ThS Trịnh Tuấn Anh
_______________________________________
Tài liệu tham khảo
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018), Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.
- Quốc hội (2024), Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.
- Chính phủ (2024), Nghị định số 73/2024/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
- Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công (2026), Quyết định số 124/QĐ-BCĐCCTLBHXH về Kế hoạch nghiên cứu, xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội.
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), “Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà họp về xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và BHXH”, ngày 22/9/2026.



