![]()
Ứng dụng công nghệ mở rộng không gian tạo giá trị, hướng tới nền nông nghiệp hiện đại và bền vững.
I. CÔNG NGHỆ TRƯỚC HẾT PHẢI LÀM THAY ĐỔI HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
Trong nông nghiệp, giá trị của công nghệ trước hết được thể hiện ở khả năng sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Khi đất đai có giới hạn, chi phí đầu vào biến động và yêu cầu về chất lượng ngày càng cao, việc gia tăng sản lượng không còn là thước đo duy nhất. Quan trọng hơn là lượng giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị đất đai, lao động, nước và vật tư.
Theo logic đó, công nghệ có thể tác động tới nhiều khâu của quá trình sản xuất: sử dụng đầu vào chính xác hơn, giảm chi phí, hạn chế tổn thất, nâng năng suất và cải thiện chất lượng. Hiệu quả cuối cùng vì vậy không nằm ở mức độ hiện đại của thiết bị, mà ở phần giá trị được tạo thêm so với nguồn lực phải bỏ ra.
Thực tiễn tại HTX Dịch vụ nông nghiệp Bình Nam cho thấy khá rõ cơ chế này. Sau hai vụ sản xuất năm 2026, năng suất bình quân đạt khoảng 65 tạ/ha, nhiều vùng vượt 70 tạ/ha. Việc ứng dụng máy bay không người lái trong phun giống, phân bón giúp giảm nhu cầu lao động, sử dụng vật tư hợp lý hơn và hạn chế lượng thuốc bảo vệ thực vật; lợi nhuận tăng khoảng 5 triệu đồng/ha so với năm 2025. Trường hợp này cho thấy thiết bị chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra thay đổi có thể nhận diện được về năng suất, chi phí và hiệu quả sản xuất.
Cùng với thiết bị cơ giới và tự động hóa, các hệ thống cảm biến, IoT và công cụ phân tích dữ liệu đang mở rộng khả năng theo dõi độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng, pH và những thông số liên quan. Từ đó, người sản xuất có thêm cơ sở để điều chỉnh quá trình canh tác thay vì chỉ xử lý khi vấn đề đã phát sinh.
Tuy nhiên, hiệu quả ở từng công đoạn chưa đồng nghĩa với hiệu quả của toàn bộ chuỗi sản xuất. Một thiết bị có thể giúp giảm chi phí trên đồng ruộng, nhưng nếu sản phẩm sau thu hoạch chưa được bảo quản tốt, chưa có thị trường ổn định hoặc chưa được chế biến để nâng giá trị, phần lợi ích tạo ra vẫn có giới hạn.
Bởi vậy, câu hỏi quan trọng không còn chỉ là “ứng dụng công nghệ gì”, mà là công nghệ được đặt ở đâu trong cấu trúc sản xuất và tạo ra thay đổi gì đối với toàn bộ quá trình tạo giá trị.
II. TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT ĐỂ MỞ RỘNG GIÁ TRỊ CỦA CÔNG NGHỆ
Nếu công nghệ tạo ra hiệu quả trực tiếp ở từng khâu, thì tổ chức lại sản xuất là điều kiện để những hiệu quả đó được nối tiếp và lan tỏa trong chuỗi giá trị. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với nông nghiệp, nơi quy mô sản xuất, mức độ liên kết và khả năng tiêu chuẩn hóa có ảnh hưởng đáng kể tới việc tiếp nhận công nghệ.
Một nền sản xuất quá manh mún thường khó hình thành quy trình đồng nhất, khó tổ chức dữ liệu và khó tạo quy mô phù hợp cho đầu tư. Vì vậy, hiện đại hóa nông nghiệp không chỉ bắt đầu từ thiết bị, mà còn từ cách tổ chức các nguồn lực trên đồng ruộng.
Trường hợp Bình Nam cho thấy việc ứng dụng máy bay không người lái gắn với quá trình tái cơ cấu sản xuất, dồn điền, tích tụ ruộng đất, sử dụng giống xác nhận và phân bón vi sinh. Công nghệ trong trường hợp này không đứng tách biệt mà được đặt trong một quá trình tổ chức lại sản xuất rộng hơn. Điều đó cho thấy một thiết bị chỉ phát huy đầy đủ khi có quy mô, quy trình và năng lực quản trị tương ứng.
Từ đây, có thể chuyển cách nhìn từ “công nghệ của từng người sản xuất” sang “công nghệ của chuỗi giá trị”. Một giải pháp kỹ thuật nếu chỉ được sử dụng ở một công đoạn sẽ chủ yếu tạo ra hiệu quả cục bộ. Nhưng khi công nghệ được kết nối với các khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, truy xuất và tiêu thụ, khả năng tạo giá trị được mở rộng hơn.
Công nghệ sản xuất giúp kiểm soát đầu vào và quy trình; công nghệ sau thu hoạch góp phần hạn chế tổn thất; hệ thống dữ liệu hỗ trợ truy xuất và quản lý chất lượng; trong khi chế biến và thương hiệu giúp sản phẩm vượt khỏi giá trị của nguyên liệu thô. Khi các khâu này được kết nối, một đơn vị tài nguyên có thể tạo ra nhiều giá trị hơn thay vì chỉ phụ thuộc vào sản lượng của một mùa vụ.
Trong cấu trúc đó, mỗi chủ thể đảm nhận một chức năng khác nhau. Nông dân là người trực tiếp tổ chức sản xuất; hợp tác xã có thể tập hợp, điều phối và chuẩn hóa quy trình; doanh nghiệp có điều kiện tham gia các khâu đòi hỏi vốn, công nghệ, chế biến, thương mại và thị trường; còn Nhà nước tạo lập môi trường thể chế, hạ tầng và các cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Định hướng nâng cấp chi nhánh tại Đà Nẵng của ThaiBinh Seed thành trung tâm sản xuất, chế biến, bảo quản và phân phối giống cây trồng cho miền Trung, Tây Nguyên và cả nước là một ví dụ cho xu hướng doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi. Giá trị của mô hình không chỉ ở một cơ sở sản xuất, mà ở khả năng kết nối nhiều khâu để tạo thành một chuỗi tương đối hoàn chỉnh.
Khi công nghệ được đặt trong một cấu trúc tổ chức như vậy, mục tiêu của sản xuất có thể chuyển từ tối đa hóa sản lượng sang tối ưu hóa giá trị tạo ra trên cùng một nguồn lực.
III. MỞ RỘNG KHÔNG GIAN GIÁ TRỊ, HƯỚNG TỚI NÔNG NGHIỆP ĐA GIÁ TRỊ
Khi hiệu quả sản xuất được cải thiện và các khâu trong chuỗi được kết nối, vấn đề tiếp theo là mở rộng không gian kinh tế của nông nghiệp. Nông nghiệp đa giá trị có thể được hiểu là quá trình gia tăng giá trị từ cùng một nền tảng tài nguyên, không chỉ thông qua sản phẩm nông nghiệp mà còn qua chế biến, thương hiệu, dịch vụ, du lịch, cảnh quan, văn hóa và các giá trị sinh thái.
Cách tiếp cận này làm thay đổi quan niệm về giá trị của một khu vực sản xuất. Một vùng nguyên liệu không chỉ tạo ra sản phẩm để bán tại thời điểm thu hoạch. Nếu được tổ chức phù hợp, vùng sản xuất đó còn có thể trở thành nền tảng cho chế biến, phát triển thương hiệu, xây dựng trải nghiệm, kết nối du lịch hoặc cung cấp những giá trị gắn với cảnh quan và môi trường.
Công nghệ có thể hỗ trợ quá trình này thông qua kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, quản lý quy trình và sử dụng tài nguyên chính xác hơn. Nhưng công nghệ chỉ là một điều kiện. Để một sản phẩm nông nghiệp hình thành thêm giá trị, còn cần năng lực chế biến, tổ chức thị trường, xây dựng thương hiệu và khả năng kết nối giữa các chủ thể.
Đây cũng là lý do giá trị kinh tế và giá trị môi trường có thể được đặt trong cùng một bài toán. Việc sử dụng hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước và các nguồn đầu vào vừa có thể góp phần giảm chi phí, vừa hỗ trợ yêu cầu sản xuất theo hướng thân thiện hơn với môi trường. Tuy nhiên, hiệu quả cụ thể cần được đánh giá theo từng mô hình, loại sản phẩm và điều kiện sản xuất, thay vì mặc nhiên cho rằng mọi ứng dụng công nghệ đều đồng thời tạo ra hiệu quả kinh tế và môi trường.
Đối với Đà Nẵng, quá trình phát triển nông nghiệp có thể được nhìn trong mối liên hệ với nhiều không gian kinh tế khác nhau, từ sản xuất nông nghiệp, thủy sản, rừng và dược liệu đến chế biến, logistics, sản phẩm OCOP, làng nghề và du lịch. Khi những không gian này được kết nối, nông nghiệp có thêm khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị rộng hơn.
Điểm quan trọng là sự mở rộng đó không nhất thiết đòi hỏi tăng tương ứng diện tích sản xuất. Giá trị có thể được gia tăng thông qua chế biến sâu hơn, tổ chức thị trường tốt hơn, sử dụng dữ liệu hiệu quả hơn và khai thác hợp lý các giá trị dịch vụ, văn hóa hay sinh thái gắn với sản xuất.
Theo nghĩa đó, chuyển sang nông nghiệp đa giá trị thực chất là chuyển từ tư duy tạo ra nhiều sản phẩm hơn sang tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một nền tảng nguồn lực.
IV. TỪ MỘT SỐ MÔ HÌNH ĐẾN KHẢ NĂNG NHÂN RỘNG
Những mô hình ứng dụng công nghệ chỉ tạo được tác động rộng hơn khi có khả năng được áp dụng trong những điều kiện tương đồng. Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở việc có một mô hình cụ thể, mà ở việc xác định những điều kiện làm nên hiệu quả của mô hình.
Trước hết là khả năng tiếp nhận công nghệ. Công nghệ càng phù hợp với quy mô sản xuất, điều kiện lao động và năng lực quản trị thì khả năng ứng dụng thực tế càng cao. Hỗ trợ đầu tư ban đầu vì thế có thể giúp giảm rào cản tiếp cận, nhưng đi cùng với đó cần có hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo và khả năng vận hành sau đầu tư.
Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 của thành phố có cơ chế hỗ trợ một phần chi phí đầu tư đối với một số hệ thống, thiết bị và công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp, trong đó mức hỗ trợ có thể lên tới 50%, tối đa 700 triệu đồng/dự án. Một số nội dung hỗ trợ cũng gắn với yêu cầu về quy mô sản xuất, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và liên kết sản xuất, tiêu thụ. Cách thiết kế này cho thấy hỗ trợ công nghệ có xu hướng được đặt trong mối quan hệ với tổ chức sản xuất và thị trường, thay vì chỉ hỗ trợ việc mua sắm thiết bị.
Điều kiện thứ hai là năng lực của hợp tác xã và doanh nghiệp. Công nghệ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu chủ thể đủ khả năng tổ chức vùng nguyên liệu, quản lý dữ liệu, bảo đảm chất lượng và kết nối thị trường. Vì vậy, nâng cao năng lực quản trị của hợp tác xã và doanh nghiệp cần được xem là một phần của quá trình hiện đại hóa nông nghiệp.
Điều kiện thứ ba là thị trường. Một sản phẩm được sản xuất bằng quy trình hiện đại vẫn cần có đầu ra đủ ổn định để tạo động lực đầu tư. Liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ vì thế có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công nghệ gắn với nhu cầu thực tế thay vì trở thành những khoản đầu tư riêng lẻ.
Sau cùng là cách đánh giá hiệu quả. Không nên chỉ nhìn vào số lượng thiết bị được đầu tư hay số mô hình được triển khai. Các chỉ tiêu quan trọng hơn là năng suất, chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, mức sử dụng tài nguyên, thu nhập của người sản xuất, khả năng tiêu thụ và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị.
Khi những tiêu chí đó được theo dõi đầy đủ, việc nhân rộng mô hình sẽ có cơ sở hơn. Mô hình phù hợp không nhất thiết phải được sao chép nguyên trạng; điều quan trọng là xác định được nguyên tắc tạo hiệu quả và điều chỉnh cho phù hợp với từng vùng sản xuất, từng loại sản phẩm và năng lực của chủ thể.
Công nghệ chỉ thực sự tạo ra chuyển biến khi làm thay đổi hiệu quả sử dụng nguồn lực và phương thức tổ chức sản xuất. Từ hiệu quả của từng khâu, sản xuất cần được tổ chức lại; từ tổ chức lại, các chủ thể được kết nối trong chuỗi; và từ chuỗi giá trị, không gian phát triển của nông nghiệp được mở rộng.
Theo hướng đó, hiện đại hóa nông nghiệp không chỉ là đưa thêm thiết bị vào sản xuất, mà là xây dựng khả năng để công nghệ, tổ chức sản xuất, doanh nghiệp, hợp tác xã và thị trường cùng vận hành trong một cấu trúc tạo giá trị. Khi một đơn vị tài nguyên có thể đồng thời tạo ra sản phẩm, giá trị chế biến, thương hiệu, dịch vụ và các giá trị môi trường phù hợp, nông nghiệp có điều kiện chuyển từ mô hình dựa nhiều vào sản lượng sang mô hình chú trọng hơn tới giá trị.
Với Đà Nẵng, hướng phát triển này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện các điều kiện để công nghệ được hấp thụ, liên kết được tổ chức thực chất và những mô hình phù hợp có khả năng nhân rộng. Đích đến không đơn thuần là một nền nông nghiệp hiện đại hơn về công nghệ, mà là một nền nông nghiệp sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, tạo ra nhiều giá trị hơn và có khả năng thích ứng tốt hơn với yêu cầu của thị trường, môi trường và quá trình phát triển trong dài hạn./.
ThS. Phạm Ngọc Ánh



