Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng chuyển từ mở rộng quan hệ sang nâng cao chất lượng và hiệu quả thực chất, việc chuyển hóa các cam kết quốc tế thành nguồn lực phát triển đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với Việt Nam. Đặc biệt, trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, hiệu quả hội nhập không chỉ được đo bằng số lượng thỏa thuận được ký kết hay chương trình hợp tác được triển khai, mà còn phải thể hiện qua năng lực thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, sức mạnh mềm quốc gia và những cải thiện cụ thể trong đời sống nhân dân. Từ yêu cầu tăng cường phối hợp liên ngành, rà soát các cam kết và chủ động đề xuất sáng kiến được đặt ra tại phiên họp ngày 22/10/2026 của Ban Công tác liên ngành đối ngoại và hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, giáo dục – đào tạo, bài viết phân tích những điều kiện cần thiết để biến cơ hội hợp tác thành giá trị phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng về hoàn thiện thể chế, nâng cao trách nhiệm thực thi, phát huy nguồn lực tri thức, đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm chủ quyền văn hóa trong quá trình hội nhập.
Từ khóa: Hội nhập quốc tế; cam kết quốc tế; nguồn lực phát triển; sức mạnh mềm; văn hóa; giáo dục; phát triển bền vững.
Abstract: As international integration increasingly shifts from expanding relationships to improving the quality and effectiveness of cooperation, transforming international commitments into tangible development resources has become a key priority for Vietnam. In culture, social affairs, education and training, integration should not be measured solely by the number of agreements signed or cooperation programs implemented. Its value must also be reflected in institutional capacity, human capital development, national soft power and measurable improvements in people's lives. Drawing on the conclusions of the first meeting of the Intersectoral Working Group on External Relations and International Integration in Culture, Social Affairs, Education and Training, held on October 22, 2026, this article examines the conditions required to convert international cooperation opportunities into sustainable development outcomes. It proposes policy directions focusing on institutional reform, implementation accountability, knowledge mobilization, digital transformation and the protection of cultural sovereignty in the integration process.
Keywords: International integration; international commitments; development resources; soft power; culture; education; sustainable development.
![]()
Từ cam kết quốc tế đến nguồn lực phát triển: Đổi mới tư duy hội nhập trong văn hóa, xã hội và giáo dục. Ảnh minh họa - TL
Hội nhập phải được đo bằng giá trị phát triển
Trong một thế giới vận động nhanh chóng dưới tác động của cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và những thay đổi sâu sắc trong cấu trúc kinh tế toàn cầu, hội nhập quốc tế không còn đơn thuần là quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại hay tham gia ngày càng nhiều cơ chế hợp tác. Giá trị thực chất của hội nhập ngày nay nằm ở khả năng chuyển hóa những cơ hội từ bên ngoài thành năng lực phát triển từ bên trong, qua đó củng cố sức mạnh quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển lâu dài.
Đối với Việt Nam, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó chất lượng thể chế, nguồn nhân lực, khoa học – công nghệ, văn hóa và năng lực sáng tạo ngày càng giữ vai trò quyết định. Nếu hội nhập kinh tế có thể được nhìn nhận qua khả năng tiếp cận thị trường, thu hút đầu tư và tham gia chuỗi giá trị, thì hội nhập về văn hóa, xã hội, giáo dục – đào tạo đòi hỏi một cách tiếp cận rộng hơn. Thành quả không chỉ nằm ở nguồn lực tài chính hay cơ hội tiếp cận công nghệ, mà còn ở khả năng tiếp thu tri thức, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng con người và lan tỏa những giá trị đặc sắc của Việt Nam ra thế giới.
Tinh thần ấy được thể hiện rõ trong phiên họp lần thứ nhất Ban Công tác liên ngành đối ngoại và hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, giáo dục – đào tạo do Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà chủ trì ngày 22/10/2026. Theo thông tin từ Báo Điện tử Chính phủ, một trong những yêu cầu trọng tâm được đặt ra là rà soát toàn diện các cam kết, chương trình hợp tác quốc tế, đánh giá kết quả thực hiện và chuyển hóa những nội dung có giá trị thành nguồn lực phát triển thực chất. Các cơ quan thành viên cũng được yêu cầu nâng cao hiệu quả phối hợp, hoàn thiện kế hoạch công tác và xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra.
Đáng chú ý, định hướng này không dừng ở việc thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ đã cam kết. Việt Nam còn cần chủ động đề xuất sáng kiến tại các diễn đàn đa phương, nâng cao vai trò đóng góp và lan tỏa giá trị văn hóa, tri thức, văn minh Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy: từ hội nhập với tư cách một chủ thể tham gia sang hội nhập với năng lực chủ động kiến tạo; từ chú trọng số lượng hoạt động sang coi trọng chất lượng kết quả; từ tiếp nhận cơ hội sang tạo ra những giá trị mới cho cả Việt Nam và các đối tác.
Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được cơ chế đủ hiệu quả để mỗi cam kết quốc tế có thể đi qua toàn bộ quá trình từ hoạch định đến triển khai, từ nguồn lực đầu vào đến kết quả đầu ra, từ trách nhiệm của cơ quan thực hiện đến lợi ích cuối cùng của người dân.
Cam kết quốc tế: Tài sản thể chế cần được khai thác hiệu quả
Trong thực tiễn đối ngoại, cam kết quốc tế có thể tồn tại dưới nhiều hình thức: điều ước quốc tế, thỏa thuận hợp tác song phương, chương trình trong khuôn khổ đối tác chiến lược, biên bản ghi nhớ, sáng kiến đa phương hoặc các dự án hợp tác chuyên ngành. Mỗi hình thức có phạm vi, tính chất pháp lý, cơ chế thực hiện và mức độ ràng buộc khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung là chúng đều có thể tạo ra những cơ hội mới về tri thức, công nghệ, nguồn lực tài chính, đào tạo nhân lực và kết nối quốc tế.
Nếu được tổ chức thực hiện tốt, các cam kết này trở thành một dạng tài sản thể chế, giúp Việt Nam mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực toàn cầu, nâng cao chất lượng chính sách và tạo dựng những quan hệ hợp tác dài hạn. Ngược lại, nếu thiếu cơ chế theo dõi, đánh giá và phân công trách nhiệm rõ ràng, những cơ hội đó có thể bị thu hẹp thành các hoạt động hành chính, các cuộc gặp gỡ mang tính nghi thức hoặc những chương trình không tạo ra tác động tương xứng với nguồn lực đã bỏ ra.
Một thỏa thuận hợp tác giáo dục, chẳng hạn, chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra chương trình đào tạo được công nhận, nâng cao năng lực giảng viên, thúc đẩy nghiên cứu chung hoặc cải thiện cơ hội học tập của người học. Một chương trình giao lưu văn hóa chỉ tạo được giá trị lâu dài khi góp phần bảo tồn di sản, hình thành sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh, mở rộng công chúng tiếp cận và nâng cao sự hiểu biết của bạn bè quốc tế về Việt Nam.
Vì vậy, cần phân biệt rõ giữa kết quả hoạt động và kết quả phát triển. Số đoàn công tác, số hội nghị, số văn bản ký kết hay số lượt trao đổi chuyên gia là những chỉ báo về quy mô triển khai. Chúng không thể thay thế các chỉ báo về chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả chính sách, năng lực sáng tạo, mức độ tiếp cận dịch vụ công hoặc giá trị kinh tế – xã hội được tạo ra.
Yêu cầu rà soát, thống kê, phân loại các cam kết và đánh giá những khó khăn, vướng mắc được đặt ra tại phiên họp ngày 22/10/2026 vì thế có ý nghĩa thiết thực. Đây không đơn thuần là hoạt động kiểm kê hồ sơ, mà cần trở thành quá trình đánh giá hiệu quả danh mục hợp tác quốc tế, xác định chương trình nào cần tiếp tục đầu tư, chương trình nào cần điều chỉnh và nội dung nào không còn phù hợp.
Để làm được điều đó, mỗi cam kết cần được đặt trong mối liên hệ với các mục tiêu phát triển quốc gia, chiến lược ngành và nhu cầu thực tiễn. Cơ quan chủ trì phải xác định rõ kết quả cần đạt, nguồn lực cần huy động, tiến độ thực hiện, đối tượng thụ hưởng và cơ chế đánh giá. Những chương trình có nhiều đối tác tham gia cần có đầu mối chịu trách nhiệm tổng hợp, tránh tình trạng mỗi cơ quan thực hiện một phần nhưng không có đơn vị chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng.
Một nguyên tắc quan trọng là không đánh giá hiệu quả hợp tác chỉ dựa trên mức độ hoàn thành thủ tục. Điều cần quan tâm hơn là sau mỗi chương trình, năng lực của cơ quan, tổ chức hoặc cộng đồng thụ hưởng được cải thiện như thế nào; tri thức được chuyển giao đến đâu; mô hình tốt có được nhân rộng hay không; nguồn lực được huy động có tạo ra giá trị tương xứng hay không.
Chuyển hóa cam kết quốc tế thành nguồn lực phát triển, xét đến cùng, chính là chuyển hóa những cơ hội mang tính đối ngoại thành năng lực nội sinh của đất nước.
Hoàn thiện thể chế để kết nối các nguồn lực
Một trong những điều kiện quyết định hiệu quả hội nhập là chất lượng thể chế. Các cam kết quốc tế dù có nội dung tiến bộ đến đâu cũng khó tạo ra kết quả nếu thiếu quy định thực thi phù hợp, cơ chế phối hợp rõ ràng hoặc nguồn lực bảo đảm.
Đối với văn hóa, xã hội, giáo dục – đào tạo, yêu cầu này càng rõ nét bởi đây là những lĩnh vực liên quan đến nhiều chủ thể và có phạm vi tác động rộng. Một chương trình hợp tác giáo dục có thể liên quan đến quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, tổ chức khoa học và người học. Một dự án phát huy di sản có thể đòi hỏi sự tham gia của cơ quan văn hóa, chính quyền địa phương, cộng đồng sở hữu di sản, doanh nghiệp du lịch và các tổ chức quốc tế. Nếu thiếu sự kết nối, nguồn lực sẽ bị phân tán và hiệu quả tổng thể khó đạt như kỳ vọng.
Bởi vậy, hoàn thiện thể chế cần được nhìn nhận không chỉ là sửa đổi những quy định riêng lẻ, mà còn là thiết kế lại phương thức phối hợp và thực thi chính sách trong môi trường hội nhập.
Trước hết, cần rà soát hệ thống văn bản pháp luật, chiến lược, chương trình và đề án có liên quan để nhận diện những quy định chồng chéo, khoảng trống pháp lý hoặc cơ chế chưa theo kịp thực tiễn. Việc rà soát phải gắn với dự báo những thay đổi do dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số và các mô hình hợp tác xuyên biên giới tạo ra.
Tiếp đó, cần phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đối ngoại, đơn vị chuyên môn và tổ chức trực tiếp triển khai. Cơ quan đối ngoại có vai trò kết nối, tham mưu và điều phối quan hệ; các bộ, ngành chuyên môn phải chịu trách nhiệm về chất lượng nội dung, khả năng hấp thụ nguồn lực và kết quả trong lĩnh vực phụ trách. Cơ chế liên ngành cần bảo đảm các bên cùng theo đuổi mục tiêu chung, thay vì chỉ hoàn thành phần việc riêng.
Đồng thời, phải tăng cường tính liên thông giữa hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện. Những vướng mắc phát sinh từ các chương trình hợp tác cần được tổng hợp định kỳ, phân tích nguyên nhân và chuyển thành kiến nghị hoàn thiện thể chế. Qua đó, hoạt động hợp tác quốc tế không chỉ giúp triển khai chính sách mà còn cung cấp dữ liệu thực tiễn cho quá trình đổi mới chính sách.
Một yêu cầu khác là bảo đảm tính minh bạch và khả năng giải trình. Những chương trình sử dụng ngân sách nhà nước cần có tiêu chí lựa chọn, dự toán, mục tiêu, sản phẩm và cơ chế giám sát phù hợp. Đối với các dự án có nguồn vốn tài trợ hoặc hợp tác công – tư, cần xác định rõ nghĩa vụ của các bên, quyền sở hữu kết quả, cơ chế chia sẻ dữ liệu và phương án duy trì hoạt động sau khi dự án kết thúc.
Thể chế tốt không chỉ giúp tháo gỡ rào cản mà còn làm tăng khả năng hấp thụ nguồn lực. Khi thủ tục rõ ràng, trách nhiệm minh bạch và cơ chế phối hợp hiệu quả, các đối tác quốc tế sẽ có cơ sở vững chắc hơn để đầu tư lâu dài, trong khi cơ quan trong nước có thể chủ động lựa chọn những mô hình phù hợp với nhu cầu phát triển.
Văn hóa: Từ bảo tồn di sản đến phát triển sức mạnh mềm
Trong nền kinh tế tri thức, văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần được bảo tồn mà còn là nguồn lực tạo nên bản sắc, sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Một nền văn hóa có chiều sâu, được tổ chức khai thác hợp lý và truyền tải bằng phương thức hiện đại có thể tạo ra giá trị trên nhiều phương diện: giáo dục, du lịch, công nghiệp sáng tạo, giao lưu nhân dân và quan hệ đối ngoại.
Việt Nam sở hữu hệ thống di sản vật thể, phi vật thể, cảnh quan, tri thức dân gian và các giá trị văn hóa cộng đồng phong phú. Tuy nhiên, sự phong phú của tài nguyên văn hóa không tự động chuyển thành sức mạnh mềm. Điều quyết định là năng lực bảo tồn, diễn giải, số hóa, sáng tạo sản phẩm và kết nối những giá trị đó với công chúng trong nước cũng như quốc tế.
Tại phiên họp ngày 22/10/2026, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết Bộ sẽ lựa chọn một số di sản phù hợp để số hóa, chuẩn hóa dữ liệu và xây dựng nội dung đa ngôn ngữ, phục vụ bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục, du lịch và quảng bá hình ảnh Việt Nam. Đây là định hướng đáng chú ý, bởi số hóa di sản có thể mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận và sử dụng các giá trị văn hóa trong môi trường toàn cầu.
Một hồ sơ di sản được số hóa đầy đủ, có thông tin khoa học đáng tin cậy và được trình bày bằng nhiều ngôn ngữ không chỉ phục vụ lưu trữ. Nó còn có thể trở thành học liệu, tài nguyên nghiên cứu, nội dung cho bảo tàng số, cơ sở phát triển sản phẩm du lịch và nguồn thông tin chính thống cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Tuy nhiên, số hóa không nên được hiểu đơn giản là chuyển tài liệu giấy thành tệp điện tử hoặc xây dựng những bộ sưu tập hình ảnh rời rạc. Quá trình này cần bao gồm chuẩn hóa dữ liệu, xác minh nguồn gốc, xây dựng hệ thống mô tả thống nhất, bảo đảm quyền sử dụng và thiết lập cơ chế cập nhật lâu dài. Đặc biệt, những tri thức gắn với cộng đồng cần được thu thập, diễn giải và phổ biến trên cơ sở tôn trọng chủ thể văn hóa, tránh thương mại hóa thiếu kiểm soát hoặc làm sai lệch ý nghĩa nguyên gốc.
Từ nền tảng đó, Việt Nam có thể thúc đẩy các chương trình hợp tác quốc tế về bảo tồn di sản, phục dựng tư liệu, nghiên cứu liên ngành, đào tạo chuyên gia và phát triển công nghiệp văn hóa. Các cơ sở bảo tàng, trường đại học, viện nghiên cứu, nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo cần được kết nối trong những chương trình có mục tiêu cụ thể.
Việc phát triển các thương hiệu văn hóa gắn với UNESCO, tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo hay thúc đẩy giảng dạy Việt Nam học ở nước ngoài cũng cần được nhìn nhận trong logic đó. Giá trị của danh hiệu quốc tế không nằm ở sự tôn vinh đơn thuần, mà ở khả năng tạo ra các mạng lưới hợp tác, thúc đẩy đầu tư cho bảo tồn, nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa và mở rộng giao lưu giữa các cộng đồng.
Đặc biệt, văn hóa cần được kết nối chặt chẽ hơn với giáo dục, du lịch và phát triển địa phương. Một di sản chỉ thực sự sống động khi người dân hiểu, trân trọng và có điều kiện tham gia bảo vệ; khi thế hệ trẻ được tiếp cận bằng phương thức hấp dẫn; khi hoạt động du lịch tạo sinh kế nhưng không phá vỡ không gian văn hóa; và khi cộng đồng được hưởng lợi công bằng từ những giá trị do mình gìn giữ.
Phát triển sức mạnh mềm vì vậy không phải là hoạt động quảng bá một chiều. Đó là quá trình xây dựng uy tín, tạo dựng sự tin cậy và làm cho các giá trị Việt Nam trở nên dễ hiểu, có sức hấp dẫn và có khả năng đối thoại với thế giới.
Giáo dục và đào tạo: Nâng cao năng lực hấp thụ tri thức toàn cầu
Nếu văn hóa tạo nên chiều sâu bản sắc và sức mạnh mềm, giáo dục – đào tạo là một trong những nền tảng quan trọng nhất để nâng cao năng lực phát triển của quốc gia. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, nguồn nhân lực không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải có khả năng học tập suốt đời, tư duy phản biện, năng lực sáng tạo và thích ứng với môi trường làm việc quốc tế.
Hợp tác giáo dục vì thế không nên chỉ tập trung vào trao đổi sinh viên, cấp học bổng hay ký kết thỏa thuận giữa các trường. Những hoạt động này có ý nghĩa, nhưng giá trị lâu dài cần được thể hiện ở chất lượng chương trình đào tạo, năng lực nghiên cứu, khả năng chuyển giao tri thức và mức độ đáp ứng của nhân lực đối với nhu cầu phát triển đất nước.
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt ra định hướng mở rộng, đa dạng hóa hợp tác quốc tế; tăng cường nghiên cứu khoa học; thúc đẩy liên kết giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam với những đại học có uy tín và doanh nghiệp lớn ở nước ngoài; đồng thời chú trọng bảo đảm chất lượng và gìn giữ các giá trị văn hóa, lịch sử Việt Nam trong chương trình có yếu tố nước ngoài.
Định hướng này cho thấy hội nhập giáo dục cần được triển khai đồng thời trên hai phương diện: tiếp thu những thành tựu của thế giới và xây dựng năng lực nội sinh để làm chủ, vận dụng, sáng tạo tri thức.
Một chương trình hợp tác đào tạo hiệu quả phải xác định rõ ngành, lĩnh vực ưu tiên, chuẩn đầu ra, cơ chế công nhận kết quả học tập và phương án sử dụng nhân lực sau đào tạo. Với các lĩnh vực công nghệ mới, cần tăng cường hợp tác giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để tri thức không bị giới hạn trong môi trường học thuật mà được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và giải pháp phục vụ thực tiễn.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, hợp tác quốc tế cần gắn chặt hơn với nhu cầu của thị trường lao động, tiêu chuẩn kỹ năng và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Những chương trình đào tạo có yếu tố nước ngoài cần bảo đảm chất lượng thực chất, thông tin minh bạch về văn bằng, chi phí và cơ hội việc làm. Việc tiếp nhận mô hình giáo dục tiên tiến cũng phải đi cùng đánh giá khả năng thích ứng với điều kiện kinh tế – xã hội Việt Nam.
Một vấn đề có ý nghĩa chiến lược là năng lực hấp thụ tri thức. Có cơ hội tiếp cận chuyên gia giỏi hoặc công nghệ tiên tiến chưa đồng nghĩa với việc có thể sử dụng hiệu quả. Nếu thiếu đội ngũ đủ năng lực tiếp nhận, thiếu cơ sở nghiên cứu và thiếu cơ chế khuyến khích sáng tạo, nguồn tri thức bên ngoài khó tạo ra tác động sâu rộng.
Do đó, cần phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, cán bộ quản lý và chuyên gia có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế; tạo điều kiện cho họ tham gia các mạng lưới nghiên cứu, đồng tác giả công bố khoa học, triển khai phòng thí nghiệm chung và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, phải xây dựng cơ chế để kết quả hợp tác được tích lũy trong các tổ chức trong nước, thay vì phụ thuộc vào một số cá nhân hoặc chấm dứt khi dự án kết thúc.
Việc kết nối cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động cũng cần được xem là tiêu chí trọng yếu. Doanh nghiệp có thể tham gia xác định nhu cầu kỹ năng, xây dựng chương trình, cung cấp môi trường thực hành và đặt hàng nghiên cứu. Cơ sở giáo dục có trách nhiệm bảo đảm nền tảng học thuật, năng lực tư duy và khả năng phát triển nghề nghiệp lâu dài của người học.
Trong môi trường hội nhập, chất lượng giáo dục không thể được cải thiện chỉ bằng việc sao chép mô hình nước ngoài. Điều cần thiết là lựa chọn có chọn lọc, vận dụng sáng tạo và xây dựng một hệ thống đủ năng lực biến tri thức quốc tế thành năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng con người Việt Nam.
Phát huy nguồn lực trí thức và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Một nguồn lực quan trọng của hội nhập quốc tế không chỉ nằm ở các hiệp định, dự án hay khoản tài trợ, mà còn ở mạng lưới con người: chuyên gia, trí thức, nghệ sĩ, doanh nhân, nhà khoa học và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Đây là nguồn lực đặc biệt bởi những chủ thể này có thể kết nối tri thức, kinh nghiệm, quan hệ nghề nghiệp và cơ hội hợp tác giữa Việt Nam với các trung tâm phát triển trên thế giới. Nếu được huy động đúng cách, họ không chỉ tham gia các hoạt động giao lưu mà còn có thể góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo, đổi mới sáng tạo và quảng bá văn hóa quốc gia.
Tại phiên họp ngày 22/10/2026, yêu cầu phát huy vai trò của chuyên gia, trí thức, nghệ sĩ, doanh nhân và người Việt Nam ở nước ngoài đã được nhấn mạnh cùng với định hướng gắn hợp tác quốc tế với phát triển nguồn nhân lực. Đây là cách tiếp cận cần được cụ thể hóa bằng các cơ chế linh hoạt, lâu dài và dựa trên nhu cầu thực tế.
Thay vì chỉ mời chuyên gia tham dự hội nghị hoặc phát biểu tại các sự kiện, các cơ quan và cơ sở nghiên cứu có thể xây dựng danh mục nhiệm vụ cần chuyên gia hỗ trợ, từ đào tạo chuyên sâu, tư vấn chính sách, phản biện khoa học đến hướng dẫn nghiên cứu sinh, xây dựng phòng thí nghiệm và phát triển công nghệ. Những đóng góp cần được tổ chức thành chương trình có mục tiêu, thời hạn và sản phẩm rõ ràng.
Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cần mở rộng cơ hội tham gia các dự án bảo tồn di sản, giảng dạy tiếng Việt, nghiên cứu Việt Nam học, quảng bá văn hóa và kết nối doanh nghiệp. Việc phát huy nguồn lực này đòi hỏi phương thức làm việc chuyên nghiệp, thủ tục thuận lợi và cơ chế ghi nhận phù hợp.
Đặc biệt, cần chuyển từ cách tiếp cận huy động nguồn lực mang tính thời điểm sang xây dựng mạng lưới hợp tác liên tục. Các nền tảng kết nối chuyên gia, cơ sở dữ liệu nghiên cứu, chương trình cố vấn và dự án đồng tài trợ có thể giúp duy trì quan hệ ngay cả khi không có sự kiện đối ngoại lớn.
Hiệu quả huy động cũng phải được nhìn nhận theo hướng hai chiều. Việt Nam không chỉ tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực từ cộng đồng quốc tế, mà còn tạo môi trường để các chuyên gia, trí thức và đối tác cùng tham gia giải quyết những vấn đề chung. Sự hợp tác bền vững được hình thành khi các bên đều nhìn thấy giá trị khoa học, xã hội và nghề nghiệp trong quá trình đóng góp.
Chuyển đổi số mở rộng không gian hợp tác, nhưng cần bảo đảm chủ quyền
Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản lý, giáo dục, sáng tạo và giao lưu văn hóa. Những công cụ này mở ra khả năng hợp tác xuyên biên giới với chi phí thấp hơn, phạm vi tiếp cận rộng hơn và tốc độ trao đổi tri thức nhanh hơn. Tuy nhiên, chúng cũng đặt ra những yêu cầu mới về quản trị dữ liệu, bản quyền, an toàn thông tin, chất lượng nội dung và bảo vệ lợi ích quốc gia.
Trong lĩnh vực văn hóa, công nghệ số giúp lưu trữ, phục dựng, giới thiệu di sản và tạo ra những trải nghiệm mới cho công chúng. Trong giáo dục, các nền tảng học tập trực tuyến và công cụ trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ cá nhân hóa việc học, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức và tăng cường kết nối giữa người học với chuyên gia quốc tế. Trong quản lý xã hội, dữ liệu có thể giúp cơ quan chức năng nhận diện nhu cầu, đánh giá tác động và nâng cao chất lượng hoạch định chính sách.
Nhưng công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi đi cùng năng lực quản trị. Dữ liệu không chính xác có thể dẫn đến nhận thức sai lệch; nội dung văn hóa thiếu kiểm chứng có thể làm méo mó lịch sử; các nền tảng xuyên biên giới thiếu cơ chế giám sát phù hợp có thể gây khó khăn cho việc bảo vệ quyền lợi người học và chủ thể sáng tạo.
Vì vậy, quá trình chuyển đổi số trong hội nhập văn hóa, xã hội, giáo dục cần được triển khai trên nền tảng tiêu chuẩn dữ liệu thống nhất, cơ chế xác thực nguồn tin, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia. Các dự án hợp tác công nghệ phải xác định ngay từ đầu quyền sở hữu dữ liệu, phạm vi sử dụng, phương án bảo mật và khả năng duy trì hệ thống khi kết thúc hợp tác.
Chủ quyền văn hóa trong môi trường số không có nghĩa là khép kín trước những ảnh hưởng bên ngoài. Ngược lại, đó là năng lực chủ động lựa chọn, tiếp nhận và sáng tạo trên cơ sở giữ vững bản sắc, giá trị cốt lõi và lợi ích quốc gia. Một nền văn hóa có sức sống là nền văn hóa vừa bảo tồn được chiều sâu truyền thống, vừa có khả năng đối thoại và phát triển trong môi trường toàn cầu.
Đối với giáo dục, việc sử dụng các nền tảng và chương trình có yếu tố nước ngoài cần đi cùng kiểm định chất lượng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm nội dung phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam. Đồng thời, cần phát triển các nguồn học liệu số chất lượng cao bằng tiếng Việt, tăng cường năng lực nghiên cứu và khuyến khích các cơ sở trong nước xây dựng sản phẩm có thể tiếp cận người học quốc tế.
Công nghệ cần được xem là phương tiện nâng cao năng lực tự chủ, không phải mục tiêu tự thân. Hiệu quả cuối cùng phải được đánh giá bằng việc người dân tiếp cận tri thức thuận lợi hơn, di sản được bảo tồn tốt hơn, cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng và các giá trị Việt Nam hiện diện mạnh mẽ hơn trong không gian quốc tế.
Từ phối hợp liên ngành đến quản trị theo kết quả
Một trong những thách thức thường gặp của hợp tác quốc tế là khoảng cách giữa mục tiêu chung và cách thức tổ chức thực hiện. Nhiều vấn đề phát triển có tính liên ngành, trong khi cơ chế quản lý truyền thống thường được tổ chức theo chức năng riêng của từng cơ quan. Nếu không có đầu mối điều phối hiệu quả, những chương trình đòi hỏi sự kết hợp giữa văn hóa, giáo dục, công nghệ, truyền thông và phát triển kinh tế có thể bị phân tán thành nhiều hoạt động độc lập.
Do đó, nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành cần được xem là điều kiện trực tiếp để chuyển hóa cam kết thành nguồn lực.
Trước hết, cần xác định những vấn đề chiến lược đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ quan, thay vì đưa tất cả hoạt động chuyên môn riêng lẻ vào cùng một cơ chế điều phối. Cách tiếp cận này giúp tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ có tác động lớn, đồng thời hạn chế chồng chéo giữa các chương trình.
Tiếp theo, cần thiết lập cơ chế quản trị theo kết quả. Mỗi chương trình trọng điểm phải xác định mục tiêu cụ thể, cơ quan chịu trách nhiệm chính, đơn vị phối hợp, thời hạn hoàn thành, nguồn lực và sản phẩm đầu ra. Những chỉ tiêu đánh giá cần phản ánh cả kết quả trước mắt lẫn tác động trung và dài hạn.
Chẳng hạn, đối với chương trình số hóa di sản, các chỉ số không nên chỉ dừng ở số lượng hiện vật được quét hoặc số hồ sơ được đưa lên nền tảng. Cần đánh giá thêm chất lượng dữ liệu, mức độ tiếp cận của người dùng, số sản phẩm giáo dục và nghiên cứu được phát triển, cũng như khả năng ứng dụng vào bảo tồn và du lịch có trách nhiệm.
Đối với hợp tác giáo dục, cần theo dõi số chương trình đạt chuẩn chất lượng, mức độ công nhận kết quả học tập, năng lực nghiên cứu của giảng viên và người học, khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu và mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực. Đối với các chương trình giao lưu văn hóa, có thể đánh giá mức độ tiếp cận công chúng, chất lượng hợp tác chuyên môn, tính bền vững của mạng lưới và hiệu quả lan tỏa giá trị Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế tổng kết, đánh giá và điều chỉnh định kỳ. Những chương trình có hiệu quả cần được ưu tiên mở rộng; những chương trình gặp khó khăn cần xác định rõ nguyên nhân và phương án khắc phục; những hoạt động không còn phù hợp hoặc không tạo ra giá trị tương xứng cần được xem xét điều chỉnh, chấm dứt theo đúng thẩm quyền và quy định liên quan.
Quản trị theo kết quả cũng đòi hỏi thay đổi cách phân bổ nguồn lực. Kinh phí không nên chỉ được bố trí theo thông lệ hoặc theo số lượng hoạt động dự kiến, mà cần gắn với mục tiêu phát triển, khả năng thực hiện và hiệu quả dự kiến. Việc huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công – tư và tài trợ quốc tế cần được thực hiện trên nguyên tắc minh bạch, đúng pháp luật và bảo đảm lợi ích công.
Đây cũng là cơ sở để nâng cao trách nhiệm giải trình. Khi mục tiêu và kết quả được xác định rõ, cơ quan quản lý có thể đánh giá khách quan hơn hiệu quả thực thi; người dân và các tổ chức thụ hưởng có cơ sở giám sát; đối tác quốc tế có thể nhận diện mức độ tin cậy và năng lực triển khai của Việt Nam.
Chủ động kiến tạo sáng kiến, nâng tầm vị thế Việt Nam
Hội nhập quốc tế hiệu quả không chỉ là thực hiện tốt những nội dung đã thỏa thuận, mà còn là khả năng chủ động đưa ra sáng kiến, đóng góp vào việc giải quyết những vấn đề chung và thúc đẩy các chương trình hợp tác phù hợp với lợi ích quốc gia.
Trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục – đào tạo, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát huy vai trò này. Kinh nghiệm bảo tồn di sản trong bối cảnh phát triển, thúc đẩy giáo dục có tính bao trùm, phát triển cộng đồng, ứng dụng công nghệ trong gìn giữ văn hóa và kết nối các nền văn hóa có thể trở thành những nội dung hợp tác có giá trị đối với khu vực và quốc tế.
Theo kết luận tại phiên họp ngày 22/10/2026, các cơ quan được yêu cầu chuẩn bị phương án tham gia các diễn đàn ASEAN, Liên hợp quốc, UNESCO, ILO, UNICEF, WHO và những cơ chế phù hợp; đồng thời chủ động đề xuất sáng kiến gắn với lợi ích quốc gia và mục tiêu phát triển đất nước. Định hướng này cho thấy yêu cầu nâng cao vị thế Việt Nam thông qua đóng góp thực chất, thay vì chỉ hiện diện tại các diễn đàn quốc tế.
Muốn vậy, cần chuẩn bị sáng kiến dựa trên nghiên cứu, dữ liệu và kinh nghiệm thực tiễn. Mỗi đề xuất cần xác định rõ vấn đề cần giải quyết, lợi ích đối với Việt Nam và các đối tác, nguồn lực thực hiện, cơ chế phối hợp và khả năng nhân rộng. Các cơ sở nghiên cứu, trường đại học, tổ chức xã hội và cộng đồng chuyên gia cần được huy động tham gia từ giai đoạn xây dựng ý tưởng, thay vì chỉ được mời thực hiện sau khi chương trình đã hình thành.
Việc Việt Nam đăng cai APEC năm 2027 cũng tạo thêm cơ hội để thúc đẩy những nội dung hợp tác liên quan đến con người, văn hóa, giáo dục và phát triển bền vững, phù hợp với chương trình nghị sự và khuôn khổ của diễn đàn. Tuy nhiên, hiệu quả không chỉ nằm ở công tác tổ chức sự kiện. Điều quan trọng là những sáng kiến được đề xuất có tạo ra mạng lưới hợp tác mới, thúc đẩy trao đổi tri thức, mở rộng cơ hội cho các cơ sở trong nước và để lại kết quả sau khi sự kiện kết thúc hay không.
Cùng với đó, hoạt động truyền thông đối ngoại cần được đổi mới theo hướng tích hợp. Hình ảnh quốc gia không chỉ được tạo dựng thông qua những chiến dịch quảng bá riêng lẻ mà còn qua chất lượng giáo dục, độ tin cậy của thông tin, sức hấp dẫn của sản phẩm văn hóa, năng lực sáng tạo và cách Việt Nam tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Truyền thông vì vậy cần được kết nối với dữ liệu xác thực, nghiên cứu chuyên sâu, nội dung đa ngôn ngữ và các sản phẩm có khả năng tiếp cận công chúng quốc tế. Việc mở rộng chương trình Việt Nam học ở nước ngoài, thúc đẩy giảng dạy tiếng Việt và tăng cường hợp tác nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam có thể tạo nền tảng bền vững cho sự hiểu biết lẫn nhau.
Vị thế quốc gia không chỉ được khẳng định bằng lời giới thiệu về những thành tựu đã đạt được, mà còn bằng năng lực đóng góp tri thức, đề xuất giải pháp và tạo ra giá trị chung. Đây chính là chiều sâu của hội nhập chủ động và hội nhập có trách nhiệm.
Biến định hướng thành chương trình hành động thực chất
Để những định hướng nêu trên đi vào cuộc sống, cần một lộ trình triển khai có trọng tâm, tránh tình trạng mở rộng nhiệm vụ nhưng thiếu nguồn lực và cơ chế kiểm chứng kết quả.
Trước mắt, việc rà soát các nhiệm vụ còn lại của năm 2026 và xây dựng kế hoạch công tác năm 2027 cần được coi là bước khởi đầu để chuẩn hóa phương thức quản lý hợp tác quốc tế. Theo chỉ đạo tại phiên họp ngày 22/10/2026, kế hoạch năm 2027 cần xác định rõ nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và mục tiêu, hoàn thành chậm nhất ngày 30/11/2026. Đây là yêu cầu có ý nghĩa trực tiếp đối với việc nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan thành viên.
Trên cơ sở đó, giai đoạn 2027–2030 có thể tập trung vào một số hướng ưu tiên.
Thứ nhất, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về các cam kết và chương trình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục – đào tạo. Cơ sở dữ liệu cần phân loại theo lĩnh vực, đối tác, tính chất pháp lý, thời hạn, nguồn lực, cơ quan phụ trách và tình trạng thực hiện. Đây sẽ là căn cứ để phát hiện trùng lặp, xác định khoảng trống và lựa chọn chương trình có giá trị cao.
Thứ hai, lựa chọn một số chương trình liên ngành có khả năng tạo tác động rõ rệt để triển khai trước. Có thể ưu tiên số hóa di sản gắn với giáo dục và du lịch; hợp tác đào tạo gắn với nhu cầu nhân lực; kết nối chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài với các dự án nghiên cứu; hoặc xây dựng chương trình quảng bá văn hóa Việt Nam tại những địa bàn có tiềm năng. Mỗi chương trình phải có mục tiêu, ngân sách, đầu mối và tiêu chí đánh giá cụ thể.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế huy động nguồn lực. Ngân sách nhà nước cần tập trung cho các nhiệm vụ nền tảng, lợi ích công và những lĩnh vực cần sự dẫn dắt của Nhà nước. Đối với các hoạt động có khả năng tạo doanh thu hoặc thu hút đầu tư, cần nghiên cứu cơ chế hợp tác phù hợp, bảo đảm minh bạch và tránh thương mại hóa làm tổn hại lợi ích cộng đồng.
Thứ tư, tăng cường năng lực của đội ngũ thực thi. Cán bộ phụ trách hợp tác quốc tế không chỉ cần kỹ năng đối ngoại mà còn phải hiểu chuyên môn ngành, có khả năng xây dựng dự án, quản trị dữ liệu, theo dõi kết quả và đánh giá tác động. Các chương trình bồi dưỡng nên gắn với tình huống thực tiễn và yêu cầu công việc cụ thể.
Thứ năm, thiết lập cơ chế đánh giá độc lập hoặc đánh giá có sự tham gia của các bên thụ hưởng đối với những chương trình quy mô lớn. Những kết quả đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh chính sách, cải thiện phân bổ nguồn lực và nâng cao trách nhiệm giải trình.
Cuối cùng, phải đặt người dân ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển hóa cam kết. Người dân cần được hưởng lợi từ cơ hội học tập tốt hơn, khả năng tiếp cận di sản thuận lợi hơn, chất lượng dịch vụ xã hội được cải thiện và môi trường văn hóa phong phú hơn. Khi lợi ích được thể hiện rõ trong đời sống, hội nhập mới có nền tảng xã hội vững chắc và khả năng duy trì lâu dài.
Kết luận
Chuyển hóa cam kết quốc tế thành nguồn lực phát triển là yêu cầu phản ánh bước trưởng thành trong tư duy hội nhập của Việt Nam. Từ việc mở rộng quan hệ và tham gia các cơ chế hợp tác, đất nước cần tiến tới khai thác hiệu quả hơn những cơ hội đã tạo dựng, nâng cao năng lực tự chủ và chủ động đóng góp vào các chương trình nghị sự quốc tế.
Trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục – đào tạo, yêu cầu này đặc biệt có ý nghĩa bởi kết quả hội nhập không chỉ được đo bằng nguồn lực vật chất, mà còn bằng chất lượng con người, chiều sâu văn hóa, năng lực sáng tạo và mức độ tiến bộ của xã hội. Muốn đạt được điều đó, cần đồng thời hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành, phát triển năng lực hấp thụ tri thức, đẩy mạnh chuyển đổi số và thiết lập cơ chế đánh giá dựa trên kết quả.
Quan trọng hơn, hội nhập phải gắn với việc phát huy nội lực và bảo đảm lợi ích quốc gia. Tiếp thu tinh hoa thế giới không có nghĩa là đánh mất bản sắc; mở rộng hợp tác không đồng nghĩa với phụ thuộc; tham gia diễn đàn quốc tế không chỉ để hiện diện mà phải tạo ra những đóng góp có giá trị.
Khi các cam kết được cụ thể hóa thành chương trình khả thi, nguồn lực được phân bổ đúng trọng tâm, trách nhiệm được xác định rõ và kết quả được kiểm chứng bằng những thay đổi thực tế, hội nhập quốc tế sẽ trở thành động lực trực tiếp của phát triển. Đó cũng là con đường để Việt Nam vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa lan tỏa các giá trị văn hóa và tri thức dân tộc, đóng góp tích cực hơn cho hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững trong cộng đồng quốc tế.
ThS Hà Ngọc Duy
______________________________________
Tài liệu tham khảo
-
Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Chuyển hóa cam kết quốc tế thành nguồn lực phát triển cho văn hóa, xã hội, giáo dục”, ngày 22/10/2026. https://baochinhphu.vn/chuyen-hoa-cam-ket-quoc-te-thanh-nguon-luc-phat-trien-cho-van-hoa-xa-hoi-giao-duc-102261022171445203.htm
-
Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-71-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao-119250828110759964.htm
-
Báo Điện tử Chính phủ (2026), “Thủ tướng: Giữ chủ động chiến lược, đưa hội nhập quốc tế thực sự trở thành một trụ cột phát triển”, ngày 14/01/2026. https://baochinhphu.vn/thu-tuong-giu-chu-dong-chien-luoc-dua-hoi-nhap-quoc-te-thuc-su-tro-thanh-mot-tru-cot-phat-trien-102260114105611386.htm
-
Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
-
Liên hợp quốc (2015), Transforming our world: the 2030 Agenda for Sustainable Development [Chuyển đổi thế giới của chúng ta: Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững]. https://sdgs.un.org/2030agenda



