23/10/2026 lúc 15:33 (GMT+7)
Breaking News

Lào Cai: Bảo đảm quyền con người ở vùng dân tộc thiểu số từ những chuyển biến trong đời sống

Thực tiễn phát triển kinh tế, giảm nghèo và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản tại Lào Cai cho thấy, bảo đảm quyền con người không chỉ được thể hiện qua chủ trương, chính sách mà còn phải được đo bằng những thay đổi cụ thể trong đời sống đồng bào.

Từ chính sách đến những kết quả thực chất

Bảo đảm quyền con người là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước, trong đó việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với địa bàn miền núi, biên giới rộng, dân cư phân bố không đồng đều và điều kiện phát triển còn nhiều khác biệt, Lào Cai đang từng bước cụ thể hóa mục tiêu ấy bằng những chương trình phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, Lào Cai có 34 thành phần dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 60,9% dân số. Trong tổng số 99 đơn vị hành chính cấp xã, có 95 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 47 xã thuộc khu vực III đặc biệt khó khăn. Quy mô địa bàn và đặc điểm dân cư đặt ra yêu cầu phải tổ chức chính sách theo hướng bao trùm, ưu tiên đúng đối tượng và bảo đảm người dân có cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển một cách công bằng.

Theo thông tin được tỉnh tổng hợp, giai đoạn 2021–2025, Lào Cai hoàn thành hoặc vượt 23/32 chỉ tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tỷ lệ hộ nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 6,36% mỗi năm; thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số năm 2025 đạt trên 33 triệu đồng/người/năm, tăng khoảng hai lần so với đầu giai đoạn. Cùng với đó, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 99% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp; 98,6% hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Những kết quả này phản ánh sự cải thiện đồng thời về điều kiện sinh hoạt, khả năng kết nối và cơ hội phát triển kinh tế của người dân. Quan trọng hơn, chúng cho thấy việc bảo đảm quyền con người đang được cụ thể hóa thông qua những điều kiện thiết yếu để mỗi cá nhân và cộng đồng có thể sống an toàn, có sinh kế, tiếp cận dịch vụ công và từng bước nâng cao năng lực tự chủ.

Tuy nhiên, thành tựu giảm nghèo không đồng nghĩa những khó khăn đã được giải quyết hoàn toàn. Sau hợp nhất, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn tỉnh vẫn ở mức 11,43%; đồng bào dân tộc thiểu số còn 43.303 hộ nghèo và cận nghèo. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là tiếp tục giảm tỷ lệ nghèo mà còn phải hạn chế nguy cơ tái nghèo, nâng cao chất lượng sống và bảo đảm sự phát triển đồng đều hơn giữa các địa bàn.

Phát triển sinh kế, nâng cao thu nhập đang tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống đồng bào dân tộc thiểu số Lào Cai.

Mở rộng cơ hội phát triển kinh tế, bảo đảm sinh kế bền vững

Quyền phát triển kinh tế và quyền có điều kiện sống thích đáng gắn chặt với khả năng tiếp cận đất đai, hạ tầng, vốn, việc làm, thị trường và các nguồn lực sản xuất. Đối với đồng bào vùng cao, nơi sinh kế còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp và điều kiện tự nhiên, việc cải thiện những yếu tố này có ý nghĩa quyết định đối với khả năng thoát nghèo bền vững.

Những năm qua, Lào Cai đã ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông, điện, nước và các công trình thiết yếu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đường giao thông được cải thiện giúp người dân thuận lợi hơn trong vận chuyển nông sản, tiếp cận trường học, cơ sở y tế và các trung tâm dịch vụ. Điện lưới tạo điều kiện phát triển sản xuất, mở rộng hoạt động kinh doanh hộ gia đình và tiếp cận công nghệ. Các mô hình sinh kế mới cũng góp phần từng bước chuyển dịch từ sản xuất nhỏ lẻ, phụ thuộc vào tự nhiên sang tổ chức sản xuất có tính liên kết và định hướng thị trường.

Cùng với đầu tư hạ tầng, Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021–2025 và các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội tạo khuôn khổ để hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực cộng đồng. Việc thực hiện các chính sách cần được gắn với lợi thế từng địa bàn, từ sản xuất nông, lâm nghiệp, phát triển sản phẩm đặc trưng đến du lịch cộng đồng và các ngành nghề phù hợp.

Điểm quan trọng là hỗ trợ sinh kế không nên dừng ở việc cung cấp nguồn lực ban đầu. Người dân cần được hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ tiếp cận thông tin thị trường, xây dựng chuỗi liên kết và nâng cao năng lực quản lý sản xuất. Khi có khả năng chủ động tổ chức sinh kế và tạo thu nhập ổn định, đồng bào không chỉ cải thiện đời sống trước mắt mà còn có điều kiện thực hiện tốt hơn các quyền khác như chăm sóc sức khỏe, giáo dục con em và cải thiện nhà ở.

Đây cũng là cách tiếp cận đặt người dân vào vị trí chủ thể của phát triển, thay vì chỉ là đối tượng tiếp nhận hỗ trợ. Hiệu quả chính sách vì thế cần được đánh giá bằng khả năng tạo ra sinh kế lâu dài, tăng thu nhập thực chất và giúp các hộ gia đình tự đứng vững trước biến động kinh tế, thiên tai hoặc rủi ro thị trường.

Đồng bào dân tộc thiểu sốáp dụng khoa học kỹ thuậtvào sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế.

Giáo dục và y tế: Nền tảng của bình đẳng cơ hội

Quyền được học tập là điều kiện căn bản để mỗi người phát triển năng lực, mở rộng lựa chọn nghề nghiệp và tham gia bình đẳng hơn vào đời sống xã hội. Tại Lào Cai, địa hình chia cắt, dân cư phân tán và khoảng cách giữa các thôn, bản vẫn là những trở ngại đối với việc duy trì cơ hội học tập đồng đều.

Nhận thức rõ vai trò của giáo dục đối với phát triển nguồn nhân lực, tỉnh đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, triển khai các giải pháp phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và chăm lo điều kiện học tập cho học sinh dân tộc thiểu số. Trong giai đoạn trước, nguồn vốn dành cho đầu tư, cải tạo và nâng cấp cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số được bố trí từ Chương trình mục tiêu quốc gia 1719 cùng các nguồn lực khác.

Bên cạnh cơ sở vật chất, công tác vận động học sinh đến trường, duy trì sĩ số và hỗ trợ những nhóm có nguy cơ bị gián đoạn học tập có ý nghĩa quan trọng. Hoạt động tuyên truyền, vận động người dân tham gia các lớp xóa mù chữ cũng góp phần mở rộng khả năng tiếp cận tri thức cho người trưởng thành, nhất là tại địa bàn khó khăn.

Trong giai đoạn phát triển mới, bảo đảm quyền giáo dục cần tiếp tục chuyển từ mục tiêu duy trì cơ hội đến nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập. Việc tăng cường giáo dục tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường, phát triển kỹ năng số, hướng nghiệp và giáo dục nghề nghiệp sẽ giúp thanh thiếu niên vùng dân tộc thiểu số có thêm khả năng tiếp cận việc làm có chất lượng, hạn chế nguy cơ nghèo đói kéo dài qua nhiều thế hệ.

Cùng với giáo dục, quyền được chăm sóc sức khỏe là một trụ cột quan trọng của an sinh xã hội. Lào Cai đã từng bước củng cố mạng lưới y tế cơ sở; theo số liệu tổng hợp giai đoạn 2021-2025, 98% số xã có trạm y tế kiên cố. Đây là nền tảng để tổ chức chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch bệnh và triển khai các chương trình y tế cộng đồng tại địa bàn miền núi.

Trong năm 2026, ngành y tế tỉnh tiếp tục đẩy mạnh quản lý sức khỏe toàn dân, khám sàng lọc, chuyển đổi số và củng cố tuyến y tế cơ sở. Kết quả công tác y tế sau chín tháng cho thấy tỷ lệ người dân được khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc miễn phí đạt 93,5%, vượt mục tiêu giao trong quý III. Tuy nhiên, đây là chỉ tiêu trên phạm vi toàn tỉnh, không nên đồng nhất với tỷ lệ bao phủ riêng tại các vùng dân tộc thiểu số.

Để quyền chăm sóc sức khỏe được bảo đảm thực chất, cần tiếp tục ưu tiên nhân lực y tế cho vùng sâu, vùng xa; nâng cao năng lực trạm y tế; bảo đảm khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế và dịch vụ khám chữa bệnh phù hợp với điều kiện địa lý, ngôn ngữ, phong tục của từng cộng đồng. Công tác truyền thông sức khỏe cũng cần dễ hiểu, gần gũi và phù hợp với đặc điểm dân cư, qua đó nâng cao nhận thức về phòng bệnh, dinh dưỡng, sức khỏe bà mẹ và trẻ em.

Nước sạch, nhà ở và môi trường sống an toàn

Quyền có mức sống thích đáng không chỉ được phản ánh qua thu nhập mà còn thể hiện ở khả năng tiếp cận nước sạch, nhà ở an toàn, vệ sinh môi trường và các điều kiện sinh hoạt cơ bản. Đây là những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe, phẩm giá và chất lượng cuộc sống của mỗi gia đình.

Tại Lào Cai, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 98,6% theo số liệu tổng hợp giai đoạn 2021-2025. Kết quả này cho thấy phạm vi tiếp cận nước sinh hoạt đã được mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, nước sinh hoạt hợp vệ sinh không hoàn toàn đồng nghĩa với nước sạch đạt quy chuẩn dùng cho ăn uống; chất lượng nguồn nước, tính ổn định của hệ thống cấp nước và khả năng chi trả của hộ nghèo vẫn cần được quan tâm.

Thực tế tại một số địa bàn cho thấy công trình cấp nước tập trung có thể xuống cấp, hư hỏng, ảnh hưởng đến việc cung cấp nước cho người dân. Vì vậy, bên cạnh đầu tư xây dựng mới, cần chú trọng duy tu, bảo dưỡng, kiểm tra chất lượng nước và nâng cao vai trò của cộng đồng trong quản lý công trình. Những mô hình tổ quản lý nước tại thôn, bản có thể góp phần phát hiện sớm sự cố, sử dụng nguồn nước tiết kiệm và duy trì công trình lâu dài.

Đối với nhà ở, chính sách hỗ trợ cần hướng đến các hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và những địa bàn thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai. Một ngôi nhà an toàn không chỉ bảo vệ con người trước mưa rét, sạt lở hay thời tiết khắc nghiệt mà còn tạo điều kiện ổn định cuộc sống, duy trì việc học tập và tổ chức sản xuất.

Cùng với đó, vệ sinh môi trường tại các khu dân cư cần được gắn với xử lý rác thải, cải thiện công trình vệ sinh hộ gia đình, bảo vệ nguồn nước và thay đổi thói quen sinh hoạt. Chính sách sẽ phát huy hiệu quả cao hơn khi công trình được đầu tư đi đôi với hướng dẫn sử dụng, bảo dưỡng và sự tham gia của chính người dân.

Bộ đội Biên phòng giúp dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, góp phần xây dựng nông thôn mới, củng cố mối quan hệ đoàn kết, gắn bó nhân dân. Ảnh: TTXVN

Quyền tiếp cận thông tin và cơ hội việc làm trong môi trường số

Trong xã hội hiện đại, quyền tiếp cận thông tin ngày càng gắn với khả năng tham gia đời sống kinh tế, xã hội và thực hiện quyền công dân. Với đồng bào dân tộc thiểu số, thông tin đầy đủ, kịp thời và dễ hiểu giúp người dân nắm bắt chính sách hỗ trợ, tiếp cận dịch vụ công, tìm kiếm việc làm và chủ động hơn trong hoạt động sản xuất.

Những chuyển biến về hạ tầng viễn thông và chuyển đổi số đang mở thêm cơ hội cho các cộng đồng nông thôn, miền núi tại Lào Cai. Mô hình “Thôn số” tại thôn 6, xã Yên Bình là một ví dụ về khả năng đưa tiện ích số đến gần người dân. Theo thông tin công bố tháng 9/2026, địa bàn này đạt độ phủ sóng 4G, 5G và Internet cáp quang tới 100% hộ dân; 95% hộ sử dụng ứng dụng “Cư dân số”, trong khi tỷ lệ nộp hồ sơ dịch vụ công trực tuyến qua VNeID đạt trên 91%.

Đây là kết quả tại một mô hình cụ thể, không phải tỷ lệ đại diện cho toàn bộ vùng dân tộc thiểu số của tỉnh. Dẫu vậy, thực tiễn này cho thấy chuyển đổi số có thể giúp rút ngắn khoảng cách địa lý, tiết kiệm thời gian đi lại và mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ công. Nếu được nhân rộng phù hợp, các nền tảng số còn giúp quảng bá sản phẩm địa phương, kết nối người sản xuất với thị trường và hỗ trợ người lao động tìm kiếm cơ hội việc làm.

Trong lĩnh vực việc làm, các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và kết nối tuyển dụng tại cơ sở đang tạo thêm kênh tiếp cận thông tin cho người lao động. Năm 2026, các phiên giao dịch việc làm tại Trịnh Tường, Bản Liền và Bản Xèo đã góp phần kết nối người dân với thông tin tuyển dụng, học nghề và lựa chọn việc làm phù hợp.

Tuy nhiên, để bảo đảm quyền có việc làm bền vững, việc cung cấp thông tin cần đi cùng đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng, kết nối doanh nghiệp và hỗ trợ người lao động thích ứng với yêu cầu mới của thị trường. Các nhóm thanh niên, phụ nữ dân tộc thiểu số và lao động thuộc hộ nghèo cần được tạo điều kiện tiếp cận cơ hội bình đẳng, hạn chế tình trạng việc làm thiếu ổn định hoặc phải di cư lao động trong điều kiện nhiều rủi ro.

Đặc biệt, thu hẹp khoảng cách số không chỉ là đưa Internet đến thôn, bản. Người dân cần được hỗ trợ kỹ năng sử dụng công nghệ, nhận diện thông tin sai lệch, bảo vệ dữ liệu cá nhân và thực hiện giao dịch trực tuyến an toàn. Thông tin chính sách cũng cần được truyền tải bằng ngôn ngữ, hình thức phù hợp, kết hợp giữa nền tảng số với hệ thống truyền thanh, sinh hoạt cộng đồng và vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng bao trùm, bền vững

Những kết quả đạt được tại Lào Cai khẳng định vai trò của chính sách dân tộc, giảm nghèo và an sinh xã hội trong thúc đẩy quyền con người. Từ đường giao thông, trường học, trạm y tế đến nguồn nước sinh hoạt, hạ tầng số và cơ hội việc làm, mỗi chuyển biến đều góp phần mở rộng điều kiện để người dân thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.

Dù vậy, những con số về tỷ lệ nghèo và số hộ nghèo, cận nghèo còn lại cho thấy khoảng cách phát triển vẫn là vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Địa bàn rộng sau hợp nhất, địa hình phức tạp, dân cư phân tán và chất lượng dịch vụ công chưa đồng đều đòi hỏi tỉnh phải phân bổ nguồn lực theo nhu cầu thực tế, ưu tiên những khu vực khó khăn nhất và tăng cường giám sát hiệu quả thực hiện chính sách.

Trước hết, cần bảo đảm tính liên tục giữa các chương trình giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và các chính sách giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, việc làm. Thứ hai, tăng cường sự tham gia của người dân trong lựa chọn công trình, mô hình sinh kế và giám sát thực hiện; công khai thông tin về đối tượng, nguồn lực và kết quả hỗ trợ để chính sách đến đúng địa chỉ. Thứ ba, hoàn thiện cơ chế đánh giá dựa trên chất lượng thụ hưởng, không chỉ dựa vào số công trình hoàn thành hay tỷ lệ giải ngân.

Đặc biệt, các chính sách cần tính đến sự khác biệt về giới, độ tuổi, điều kiện khuyết tật, ngôn ngữ và khả năng tiếp cận thông tin, bảo đảm không để những nhóm dễ bị tổn thương bị bỏ lại phía sau. Việc bảo tồn bản sắc văn hóa, phát huy vai trò của cộng đồng và kết hợp tri thức bản địa với tiến bộ khoa học cũng là yếu tố quan trọng để phát triển phù hợp, hài hòa với đặc điểm từng vùng.

Bảo đảm quyền con người ở vùng dân tộc thiểu số không phải là nhiệm vụ hoàn thành trong một giai đoạn, mà là quá trình liên tục nâng cao chất lượng sống, mở rộng cơ hội và củng cố năng lực tự chủ của người dân. Với những kết quả đã đạt được cùng định hướng ưu tiên nguồn lực cho vùng khó khăn, Lào Cai có cơ sở để tiếp tục thúc đẩy phát triển bao trùm, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.

Thước đo cuối cùng của chính sách không chỉ nằm ở những chỉ tiêu được hoàn thành, mà còn ở việc mỗi người dân vùng cao có thể tiếp cận trường học tốt hơn, được chăm sóc sức khỏe kịp thời, sử dụng nước an toàn, có nơi ở vững chắc, tìm được việc làm phù hợp và chủ động tham gia vào đời sống xã hội. Khi những điều kiện ấy trở thành hiện thực một cách bình đẳng và bền vững, quyền con người sẽ được khẳng định bằng chính những đổi thay thiết thực trong từng gia đình, thôn bản và cộng đồng.

Phạm Thủy

________________________________________

Tư liệu tham khảo chính

Báo Lào Cai, Lào Cai: Từ chính sách đến cuộc sống – Những đổi thay ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngày 26/9/2026.

Cổng thông tin đối ngoại tỉnh Lào Cai, Phát huy nội lực phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số ở Lào Cai: Từ chính sách đến thực tiễn cơ sở, ngày 17/10/2026.

Báo Lào Cai, Đảm bảo tiếp cận giáo dục công bằng trong giai đoạn mới, ngày 18/3/2026.

Báo Lào Cai, Đoàn công tác Bộ Dân tộc và Tôn giáo làm việc với UBND tỉnh Lào Cai, ngày 21/7/2026.

Báo Lào Cai, Đưa chuyển đổi số về từng thôn, bản - Nâng cao đời sống cộng đồng, ngày 28/9/2026.

Báo Lào Cai, Kết nối việc làm cho hơn 340 lao động tại Bản Liền và Bản Xèo, ngày 15/8/2026; Trịnh Tường: Kết nối việc làm, tạo sinh kế cho người dân vùng biên, ngày 8/9/2026.

Cổng thông tin đối ngoại tỉnh Lào Cai, Mường Hum: Nhiều giải pháp nâng tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch, ngày 9/9/2026.

Đặng Thùy Trang (2026), Bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 363, tr. 114–118.