29/10/2026 lúc 11:46 (GMT+7)
Breaking News

Khu kinh tế Ninh Cơ – động lực phát triển kinh tế biển tỉnh Ninh Bình

Tóm tắt: Với quy mô 13.950 ha, Khu kinh tế Ninh Cơ được định hướng phát triển thành khu kinh tế biển tổng hợp, đa ngành, gắn với công nghiệp, cảng biển, logistics, đô thị và du lịch. Đây là một trong những không gian phát triển có tiềm năng tạo động lực tăng trưởng mới cho tỉnh Ninh Bình và vùng Đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, khả năng hiện thực hóa tiềm năng phụ thuộc vào chất lượng quy hoạch, năng lực kết nối hạ tầng, hiệu quả thu hút đầu tư và sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái ven biển. Trên cơ sở phân tích các văn bản quy hoạch, đối chiếu định hướng phát triển vùng và tham chiếu một số mô hình khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp sinh thái, bài viết làm rõ những điều kiện để Ninh Cơ từng bước hình thành hệ sinh thái kinh tế biển có sức cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững.

Từ khóa: Khu kinh tế Ninh Cơ; kinh tế biển; quy hoạch không gian; logistics; tăng trưởng xanh.

TỪ LỢI THẾ ĐỊA KINH TẾ ĐẾN YÊU CẦU TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN

Trong chiến lược phát triển kinh tế biển, việc hình thành các khu kinh tế ven biển có khả năng tích hợp công nghiệp, dịch vụ, cảng biển và đô thị là một hướng đi nhằm khai thác hiệu quả hơn lợi thế địa lý, mở rộng không gian sản xuất và tăng cường liên kết vùng. Tuy nhiên, giá trị của một khu kinh tế không chỉ được xác định bởi quy mô diện tích hay số lượng dự án thu hút được, mà còn ở khả năng tổ chức các hoạt động kinh tế thành một hệ thống liên kết, tạo giá trị gia tăng và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Khu kinh tế Ninh Cơ được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 14/1/2025, với diện tích 13.950 ha, thuộc tỉnh Nam Định trước đây, nay là tỉnh Ninh Bình. Ngày 22/12/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2771/QĐ-TTg phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung Khu kinh tế Ninh Cơ đến năm 2050, tạo cơ sở để nghiên cứu tổ chức không gian, định hướng sử dụng đất, phát triển hạ tầng và bố trí các khu chức năng.

Theo nhiệm vụ quy hoạch, Ninh Cơ được định hướng trở thành khu kinh tế biển tổng hợp, đa ngành, đa chức năng, có hệ thống hạ tầng đồng bộ, môi trường đầu tư thuận lợi và khả năng hỗ trợ, bổ sung chức năng với các khu kinh tế ven biển khác. Các lĩnh vực trọng tâm gồm công nghiệp, dịch vụ, logistics, đô thị và du lịch; đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển xanh, ứng dụng công nghệ, bảo vệ đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Phạm vi lập quy hoạch khoảng 13.950 ha, trong khi phạm vi nghiên cứu mở rộng khoảng 29.950 ha, bao gồm khoảng 16.000 ha mặt biển. Không gian nghiên cứu này mở ra khả năng xem xét tổng thể mối quan hệ giữa đất liền, cửa sông, vùng ven biển và hoạt động kinh tế trên biển, song cũng đòi hỏi việc phân định chức năng, đánh giá tác động và xác định điều kiện đầu tư phải được thực hiện thận trọng.

Đặt trong Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt theo Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 4/5/2024, việc phát triển Ninh Cơ cần gắn với mạng lưới đô thị, công nghiệp, cảng biển và các hành lang giao thông của vùng. Theo đó, khu kinh tế không nên được xem là một không gian biệt lập, mà cần trở thành mắt xích có khả năng bổ sung chức năng, mở rộng thị trường và tạo cơ hội hợp tác cho các địa bàn liên quan.

Bài viết tiếp cận vấn đề bằng phương pháp phân tích văn bản pháp lý và quy hoạch, đối chiếu định hướng phát triển không gian với yêu cầu liên kết vùng, đồng thời tham chiếu các mô hình tích hợp cảng biển – công nghiệp và khu công nghiệp sinh thái. Qua đó, tiềm năng của Ninh Cơ được xem xét không chỉ từ lợi thế vị trí, mà còn từ điều kiện kết nối hạ tầng, khả năng tạo chuỗi giá trị và yêu cầu phát triển bền vững.

ĐỊNH HÌNH HỆ SINH THÁI KINH TẾ BIỂN ĐA NGÀNH, HIỆN ĐẠI

Giá trị chiến lược của Ninh Cơ nằm ở khả năng hình thành hệ sinh thái kinh tế biển, trong đó công nghiệp, cảng biển, logistics, đô thị và dịch vụ hỗ trợ lẫn nhau. Đây là cách tiếp cận vượt ra ngoài mô hình phát triển dựa chủ yếu vào mở rộng diện tích khu công nghiệp hoặc thu hút các dự án riêng lẻ. Khi các chức năng được bố trí hợp lý, hoạt động sản xuất có thể tạo nhu cầu cho vận tải, kho bãi và dịch vụ kỹ thuật; ngược lại, hạ tầng cảng biển và logistics có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ và thu hút các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.

Tại hội nghị thẩm định đồ án Quy hoạch chung Khu kinh tế Ninh Cơ ngày 15/10/2026, phương án được trình bày xác định ba trục kết nối gồm tỉnh lộ 490, cao tốc Cao Bồ – Ninh Cơ và trục đường ven biển; ba hành lang sinh thái gắn với du lịch, dịch vụ ven biển, sông Ninh Cơ và sông Đáy; ba trung tâm động lực tại khu vực cửa sông Ninh Cơ, khu công nghiệp – cảng biển và khu đô thị dịch vụ – đổi mới sáng tạo. Phương án cũng tổ chức không gian thành ba phân vùng phát triển: đô thị dịch vụ, du lịch; đô thị dịch vụ hỗ trợ công nghiệp; và công nghiệp, đô thị, dịch vụ cảng biển.

Cấu trúc này thể hiện định hướng kết nối giữa giao thông, không gian sinh thái và các trung tâm hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, quy hoạch chỉ có thể phát huy hiệu quả khi các trục giao thông thực sự đáp ứng nhu cầu vận tải, các khu chức năng được kết nối đồng bộ và thứ tự ưu tiên đầu tư được xác định phù hợp với khả năng huy động nguồn lực. Nếu cảng biển, khu công nghiệp và đô thị phát triển thiếu liên kết, chi phí hạ tầng có thể gia tăng trong khi hiệu quả khai thác tổng thể chưa tương xứng với tiềm năng.

Trong mô hình kinh tế biển, cảng biển và logistics có vai trò đặc biệt quan trọng. Cảng biển không chỉ là nơi tiếp nhận, trung chuyển hàng hóa, mà còn có thể tạo động lực phát triển kho bãi, giao nhận, phân phối, bảo quản và các dịch vụ hậu cần. Khi được kết nối với mạng lưới đường bộ, đường thủy và các đầu mối vận tải liên vùng, khu kinh tế có điều kiện giảm chi phí logistics, cải thiện khả năng tiếp cận thị trường và nâng cao sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Kinh nghiệm quy hoạch Khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải tại Hải Phòng cho thấy cách tiếp cận tích hợp giữa kinh tế hàng hải, dịch vụ cảng, công nghiệp, thương mại, du lịch và hạ tầng đô thị đã được thể hiện trong quy hoạch chung được phê duyệt theo Quyết định số 1438/QĐ-TTg ngày 3/10/2012. Giá trị tham khảo đối với Ninh Cơ nằm ở nguyên tắc tổ chức các chức năng theo quan hệ bổ trợ, gắn hạ tầng giao thông và cảng biển với nhu cầu sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt đô thị. Việc vận dụng cần tính đến sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, quy mô thị trường, nguồn lực và khả năng kết nối của từng địa phương, thay vì sao chép nguyên trạng một mô hình.

Đối với Ninh Cơ, định hướng hình thành khu công nghiệp thép xanh và các khu đô thị công nghiệp – dịch vụ đặt ra yêu cầu cao về cung ứng năng lượng, công nghệ sản xuất, nguồn nước, xử lý chất thải và chất lượng nhân lực. Một tổ hợp công nghiệp chỉ có thể duy trì sức cạnh tranh dài hạn khi các yếu tố sản xuất được bảo đảm với chi phí hợp lý, đồng thời hạn chế tác động bất lợi đến môi trường. Vì vậy, khái niệm “thép xanh” cần được cụ thể hóa bằng các tiêu chí về công nghệ, hiệu suất sử dụng năng lượng, cường độ phát thải và quản lý tài nguyên, thay vì chỉ dừng ở tên gọi hoặc định hướng thu hút đầu tư.

Bên cạnh công nghiệp và cảng biển, đô thị, khoa học – công nghệ và du lịch cần được tổ chức thành các chức năng bổ trợ. Theo phương án báo cáo tháng 6/2026, sáu khu chức năng được đề xuất gồm khu công nghiệp thép xanh; khu đô thị công nghiệp – dịch vụ phía tả sông Ninh Cơ; khu khoa học – công nghệ; khu đô thị, dịch vụ phía hữu sông Ninh Cơ; khu du lịch Thịnh Long; và khu sinh thái rừng ngập mặn. Đây là các thành phần ở cấp độ tổ chức chức năng, cần được tiếp tục rà soát và hoàn thiện trong mối liên hệ với cấu trúc không gian tổng thể được trình tại hội nghị thẩm định tháng 10/2026.

Trong định hướng đó, đô thị Rạng Đông được xác định là trung tâm công nghiệp – dịch vụ – logistics gắn với cảng biển; đô thị Thịnh Long hướng tới phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ ven biển. Khu khoa học – công nghệ có thể hỗ trợ liên kết giữa nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và nhu cầu nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp. Trong khi đó, phát triển đô thị cần đi cùng nhà ở, đào tạo nghề, y tế, giáo dục và dịch vụ xã hội, bảo đảm khả năng thu hút, giữ chân nguồn nhân lực.

Như vậy, hiệu quả của mô hình đa ngành không được quyết định bởi số lượng khu chức năng, mà bởi khả năng hình thành các chuỗi liên kết thực chất. Công nghiệp tạo nhu cầu cho logistics và dịch vụ kỹ thuật; cảng biển mở rộng không gian thị trường; đô thị cung cấp nguồn nhân lực và dịch vụ; còn khoa học – công nghệ góp phần nâng cao năng suất. Khi các mối quan hệ này được tổ chức đồng bộ, Ninh Cơ mới có cơ sở hình thành một hệ sinh thái kinh tế biển có sức cạnh tranh.

GẮN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ HỆ SINH THÁI VEN BIỂN

Phát triển kinh tế biển hiện đại không thể tách rời yêu cầu bảo vệ môi trường và duy trì sức chống chịu của hệ sinh thái. Đối với khu vực ven biển, nơi giao thoa giữa đất liền, cửa sông và biển, các quyết định về sử dụng đất, vị trí công nghiệp, tổ chức cảng biển và phát triển đô thị có thể tạo ra tác động kéo dài. Vì vậy, bảo vệ môi trường cần được xem là một yếu tố của năng lực cạnh tranh, thay vì chỉ là khâu xử lý sau khi hoạt động kinh tế đã hình thành.

Việc đưa khu sinh thái rừng ngập mặn vào phương án tổ chức không gian Ninh Cơ cho thấy yêu cầu cân bằng giữa phát triển và bảo tồn. Rừng ngập mặn, bãi bồi và hệ sinh thái cửa sông có vai trò đối với đa dạng sinh học, duy trì chức năng sinh thái và hỗ trợ bảo vệ khu vực ven biển trước một số tác động của thiên tai. Tuy nhiên, giá trị của các hệ sinh thái này chỉ được bảo đảm khi quy hoạch xác lập rõ ranh giới bảo tồn, kiểm soát hoạt động sử dụng đất, quản lý chất thải và duy trì cơ chế giám sát môi trường.

Với các khu công nghiệp và dịch vụ cảng biển, yêu cầu kiểm soát phát thải, nước thải, chất thải công nghiệp và sử dụng tài nguyên cần được đặt ra từ khâu lựa chọn địa điểm, thiết kế hạ tầng và đánh giá tác động môi trường. Đồng thời, cần xác định khoảng cách phù hợp giữa các khu sản xuất với khu dân cư, du lịch và vùng nhạy cảm sinh thái, tránh để xung đột không gian làm phát sinh chi phí xử lý về sau.

Định hướng này phù hợp với Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và hài hòa giữa bảo tồn với phát triển. Đối với Ninh Cơ, định hướng đó cần được cụ thể hóa thông qua đánh giá nguy cơ ngập lụt, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển và tác động của thiên tai đối với hạ tầng, hoạt động sản xuất cũng như đời sống dân cư.

Một hướng tham khảo thiết thực là mô hình khu công nghiệp sinh thái và cộng sinh công nghiệp. Theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp trong cùng khu vực phối hợp sử dụng hiệu quả nguyên liệu, năng lượng, nước và phụ phẩm, qua đó giảm chất thải, tiết kiệm chi phí và hạn chế phát thải. Chương trình khu công nghiệp sinh thái do Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc hỗ trợ tại nhiều quốc gia đã ghi nhận trường hợp tại một khu công nghiệp DEEP C ở Việt Nam, trong đó bột thủy tinh nghiền được xác định có thể sử dụng làm vật liệu lấp đầy trong thi công đường, giúp giảm khoảng 3.000 tấn chất thải mỗi năm.

Kinh nghiệm này gợi mở khả năng nghiên cứu các giải pháp cộng sinh công nghiệp ngay từ giai đoạn quy hoạch Ninh Cơ, đặc biệt đối với các khu vực định hướng phát triển công nghiệp nặng. Tuy nhiên, việc tái sử dụng phụ phẩm phải căn cứ vào tính chất vật liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu môi trường; không phải mọi loại chất thải đều có thể đưa trở lại chu trình sản xuất. Điều quan trọng là quy hoạch tạo điều kiện cho hạ tầng dùng chung, hệ thống xử lý tập trung, quản lý tài nguyên hiệu quả và cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp.

Phát triển bền vững còn gắn với chất lượng sống và sinh kế của người dân. Phương án quy hoạch báo cáo tháng 6/2026 dự kiến dân số khu vực đạt khoảng 92.000–95.000 người vào năm 2030 và khoảng 200.000–265.000 người vào năm 2050; các chỉ tiêu này cần được xem là dự báo trong quá trình nghiên cứu, bởi tại hội nghị thẩm định tháng 10/2026, cơ quan chuyên môn vẫn đề nghị tiếp tục rà soát một số nội dung liên quan đến chất lượng và tính khả thi của đồ án. Với quy mô dân số dự kiến tăng lên đáng kể, quy hoạch cần tính toán đồng bộ nhà ở, giáo dục, y tế, giao thông, cấp nước, xử lý nước thải và các dịch vụ thiết yếu.

Cùng với đó, chuyển đổi mục đích sử dụng đất cần gắn với đánh giá tác động đối với nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động kinh tế truyền thống. Tăng trưởng chỉ có ý nghĩa bền vững khi cơ hội việc làm, đào tạo nhân lực và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội được cải thiện, đồng thời hạn chế những chi phí không cần thiết đối với cộng đồng địa phương.

HOÀN THIỆN QUY HOẠCH, KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC VÀ BẢO ĐẢM TÍNH KHẢ THI

Tiềm năng địa kinh tế mới là điều kiện ban đầu; để Ninh Cơ trở thành động lực tăng trưởng thực chất, cần một lộ trình triển khai có thứ tự ưu tiên, phù hợp với khả năng huy động nguồn lực và nhu cầu thị trường. Trong đó, quy hoạch đóng vai trò tổ chức không gian và định hướng đầu tư, còn hiệu quả thực tế phụ thuộc vào năng lực thực thi, sự đồng bộ của hạ tầng và mức độ phối hợp giữa các chủ thể liên quan.

Ngày 15/10/2026, Bộ Xây dựng tổ chức hội nghị thẩm định đồ án Quy hoạch chung Khu kinh tế Ninh Cơ đến năm 2050. Tại hội nghị, các ý kiến tập trung vào tổ chức không gian, kết nối giao thông, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, môi trường và quốc phòng – an ninh. Cơ quan thẩm định đánh giá đồ án đã xác lập định hướng phát triển đa ngành, gắn kết công nghiệp, đô thị, dịch vụ và du lịch, đồng thời yêu cầu tiếp tục rà soát, hoàn thiện một số nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và tính khả thi.

Cần phân biệt rõ việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch theo Quyết định số 2771/QĐ-TTg với việc phê duyệt đồ án quy hoạch chung. Quyết định năm 2025 tạo căn cứ pháp lý để tổ chức lập quy hoạch, nhưng không đồng nghĩa mọi phương án tổ chức không gian, chỉ tiêu sử dụng đất hay dự án được đề xuất đã trở thành nội dung quy hoạch cuối cùng được phê duyệt. Việc giữ đúng trạng thái pháp lý của từng bước là yêu cầu cần thiết để đánh giá chính xác tiến trình triển khai.

Trước hết, cần ưu tiên những hạng mục hạ tầng có khả năng tạo tác động lan tỏa, nhất là giao thông đối ngoại, kết nối cảng biển, năng lượng, cấp thoát nước và hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất. Đầu tư theo giai đoạn giúp cân đối nguồn lực, đồng thời hạn chế nguy cơ các khu chức năng hình thành khi điều kiện kết nối chưa đáp ứng. Các dự án cần được lựa chọn trên cơ sở tính phù hợp với quy hoạch, hiệu quả kinh tế – xã hội, khả năng thực hiện và mức độ đáp ứng yêu cầu môi trường.

Thứ hai, các định hướng như cảng biển tổng hợp quốc tế nước sâu, công nghiệp thép xanh và logistics quy mô lớn cần được đánh giá trên cơ sở nghiên cứu kỹ thuật, nhu cầu thị trường, điều kiện địa chất – địa hình, phương án đầu tư và năng lực cung ứng năng lượng, dịch vụ hỗ trợ. Đây là những định hướng có thể mở ra dư địa phát triển, nhưng việc hiện thực hóa còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện. Vì vậy, cần tránh đồng nhất tiềm năng quy hoạch với kết quả đầu tư hoặc năng lực khai thác đã hình thành.

Thứ ba, việc thu hút đầu tư cần hướng tới chất lượng và khả năng liên kết, không chỉ số lượng dự án hoặc quy mô vốn đăng ký. Những dự án có khả năng sử dụng hạ tầng hiệu quả, phát triển chuỗi cung ứng tại chỗ, tạo việc làm có kỹ năng và đáp ứng yêu cầu môi trường sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng của toàn khu kinh tế. Cùng với đó, chính quyền địa phương cần chú trọng đào tạo nghề, phát triển dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp và bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho lực lượng lao động.

Cuối cùng, cần hình thành cơ chế theo dõi kết quả thực hiện dựa trên các tiêu chí cụ thể như tiến độ hạ tầng, hiệu quả sử dụng đất, chất lượng việc làm, năng lực logistics, mức độ liên kết của doanh nghiệp và các chỉ số môi trường. Việc rà soát định kỳ sẽ giúp nhận diện những nội dung chưa phù hợp để điều chỉnh theo nhu cầu thị trường và điều kiện thực tiễn. Sự phối hợp giữa chính quyền, nhà đầu tư, đơn vị tư vấn và cộng đồng cũng là yếu tố quan trọng để bảo đảm quy hoạch vừa có tính định hướng dài hạn, vừa có khả năng triển khai trong từng giai đoạn.

Khu kinh tế Ninh Cơ có cơ sở để trở thành một cực tăng trưởng kinh tế biển quan trọng của tỉnh Ninh Bình và vùng Đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, quy mô diện tích và định hướng đa ngành mới là tiền đề; động lực phát triển chỉ được hình thành khi quy hoạch được hoàn thiện đồng bộ, hạ tầng kết nối được đầu tư phù hợp, các khu chức năng tạo được chuỗi giá trị và môi trường tự nhiên được bảo vệ hiệu quả.

Trong quá trình đó, cần kiên trì ba yêu cầu: tổ chức không gian phát triển có trọng tâm; huy động nguồn lực gắn với năng lực thực thi; và đặt tăng trưởng xanh, chất lượng sống của người dân trong toàn bộ quá trình triển khai. Khi các điều kiện này được bảo đảm, Ninh Cơ mới có thể chuyển tiềm năng địa kinh tế thành năng lực cạnh tranh, tạo giá trị gia tăng và việc làm ổn định, đóng góp bền vững cho sự phát triển của tỉnh Ninh Bình và toàn vùng./.

ThS. Lê Khánh Huyền