VNHN - Công nghiệp ôtô Việt Nam đang đi sau các nước trong khu vực như Thái Lan và Indonesia khoảng 20 năm nên ngành công nghiệp ôtô cần có chính sách đặc biệt nếu muốn bắt kịp các nước trong khu vực.
Đây cũng là thông điệp được đưa ra tại hội thảo: Hoàn thiện chính sách thuế và hỗ trợ tài chính thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp ôtô và phụ tùng ôtô, do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) tổ chức sáng 22/10 tại Hà Nội. Phát biểu khai mạc hội thảo, tiến sỹ Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng phụ trách CIEM, cho biết ôtô và sản xuất phụ tùng ôtô được lựa chọn để ưu tiên phát triển, 1 trong 6 ngành công nghiệp chủ lực. Hội thảo nhằm cập nhật, đánh giá tác động của các chính sách hiện hành như chính sách thuế và hỗ trợ tài chính, đến thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ôtô và phụ tùng ôtô.
Tại hội thảo, các đại biểu sẽ thảo luận làm rõ thực trạng, bất cập và hạn chế trong triển khai thực hiện các chính sách và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển, thúc đẩy thực hiện có hiệu quả mục tiêu của chiến lược công nghiệp hóa. Theo số liệu từ Cục công nghiệp, Bộ Công Thương, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đã có sự phát triển khá nhanh trong vài năm lại đây. Số lượng xe sản xuất lắp ráp trong nước có tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 10% trong giai đoạn 2015-2018, đạt 250.000 xe vào năm 2018.

Theo đánh giá của các chuyên gia ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam đi sau một số nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia khoảng 20 năm.
Tuy nhiên, sản lượng năm 2017 và 2018 lại giảm khoảng 9% và 3% so với năm trước đó. Việc sụt giảm này được đánh giá là do tác động của việc giảm thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc từ các nước ASEAN, từ mức 50% năm 2015, xuống 40% năm 2016, 30% năm 2017 và 0% năm 2018. Nền tảng sản xuất còn thấp là một trong những nguyên nhân làm nền công nghiệp ôtô không ứng phó được với cạnh tranh về giảm thuế. Điển hình là tỷ lệ về nội địa hóa. Sau gần 20 năm phát triển, ngành công nghiệp ôtô, đến nay phân khúc xe khách, xe tải cơ bản đáp ứng mục tiêu đề ra, là 20% và 45% theo từng loại xe.
Riêng với xe cá nhân dưới 9 chỗ ngồi thì tỷ lệ nội địa hóa mới đạt bình quân 7-10%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra. Sản phẩm nội địa hóa cũng mang hàm lượng công nghiệp thấp, như săm, lốp, ghế ngồi, gương kính, ắcquy… Trong khi đó, tỷ lệ nội địa hóa của các nước trong khu vực trung bình đã đạt tới 70%, thậm chí 80% như ở Thái Lan. Ngành công nghiệp Việt Nam vẫn ở quy mô nhỏ, hơn 80% linh kiện cho sản xuất xe trong nước là nhập khẩu. Tuy nhiên, ngành sản xuất linh kiện ở Việt Nam có những lợi thế và điểm bất lợi. Do đó, cần xác định linh kiện có lợi thế để nội địa hóa, nếu không vẫn phải buộc xuất khẩu.

Dù ngành sản xuất ô tô Việt Nam còn thua kém nhiều nước trong khu vực, song các chuyên gia cho rằng tiềm năng ngành ô tô Việt Nam sẽ sánh ngang Thái Lan - quốc gia dẫn đầu phát triển xe hơi khu vực.
Đây là những đánh giá được đại diện Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) nhấn mạnh. Đại diện cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô, ông Nguyễn Trung Hiếu, Trưởng Ban chính sách-VAMA, phân tích nguyên nhân vì sao các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam mới chỉ đang đạt loanh quanh mức nội địa hóa 20%. Theo ông Hiếu dung lượng thị trường nhỏ, vật liệu có chất lượng cao tại Việt Nam chưa có, phụ thuộc vào nhập khẩu; trình độ sản xuất thấp, thiếu kinh nghiệm quản trị…. là những điểm bất lợi cho các doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô.
Tuy nhiên vị đại diện VAMA cũng cho rằng, các doanh nghiệp Việt Nam không nên bỏ qua các lợi thế đang có sẵn như nhân công rẻ, trình độ tay nghề về sản xuất giản đơn thuần thục, nền tảng hệ thống các doanh nghiệp cơ khí đã có sẵn, tăng trưởng ngành công nghiệp ô tô cao… để đẩy mạnh phát triển sản xuất phụ tùng linh kiện cho lắp ráp ô tô. Theo ông Hiếu, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô cũng đã có những cơ chế, chính sách, hoạt động để hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng đầu tư sản xuất, tuy nhiên Nhà nước có những chính sách nền tảng để khắc phục các điểm bất lợi để có thể thúc đẩy nhanh nội địa hóa.

Muốn phát triển công nghiệp sản xuất lắp ráp ô tô trong nước cần thêm những chính sách ưu đãi để khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư.
Tính đến hết năm 2018, cả nước có 358 doanh nghiệp sản xuất liên quan đến ô tô; trong đó, có 50 doanh nghiệp lắp ráp ô tô, 45 doanh nghiệp sản xuất khung gầm, thân xe, thùng xe; 214 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô… số lượng doanh nghiệp này thấp hơn so với các nước trong khu vực ở Malaysia và Thái Lan. Ngoài những doanh nghiệp kể trên, số doanh nghiệp hoạt động trong công nghiệp hỗ trợ là khoảng 1.800 doanh nghiệp. Những doanh nghiệp này của Việt Nam có khả năng cung cấp và có năng lực khá tốt tại một số lĩnh vực như khuôn mẫu các loại, linh kiện xe đạp, xe máy; linh kiện cơ khí tiêu chuẩn.

Xe và linh kiện từ ASEAN ùn ùn vào Việt Nam.
Tuy nhiên, nhìn chung các doanh nghiệp này chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ với quy mô và năng lực của doanh nghiệp còn hạn chế, chỉ có khoảng 300/1.800 doanh nghiệp tham gia vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia. Tỷ lệ nội địa hoá trong các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển thấp. Vì thế Chính phủ cần sửa đổi các chính sách về thuế như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp và các ưu đãi hỗ trợ khác để thu hút các dự án đầu tư sản xuất ô tô điện (bao gồm cả chính sách cho người mua).
Bên cạnh đó, thúc đẩy tăng tỉ lệ nhà đầu tư thông qua việc miễn thuế tiêu thụ đặc biệt phần linh kiện phụ tùng sản xuất trong nước; giảm thuế với linh kiện phụ tùng sản xuất trong nước; ưu đãi thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, vật tư, linh kiện để sản xuất các sản phẩm hỗ trợ ưu tiên phát triển cho ngành công nghiệp ô tô.



