Tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân trong giai đoạn hiện nay

Thứ 3, 12/03/2019 15:03 (GMT+7)

VNHN-Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đang đặt ra. Bài viết phân tích, đánh giá việc sắp xếp các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân hiện nay và đề xuất một số giải pháp khắc phục những bất cập, hạn chế đó.

1. Khái quát chung về cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân

Cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân (UBND) được tổ chức ở hai cấp: cấp tỉnh gọi chung là sở, và cấp huyện gọi chung là phòng. Khoản 1, Điều 9 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, uỷ quyền của cơ quan nhà nước cấp trên”.

Sở, phòng là cơ quan tham mưu giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của pháp luật, bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở. Sở, phòng chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức biên chế và công tác của UBND cùng cấp. 

Sở, phòng chịu sự kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên. 
Thủ trưởng sở, phòng báo cáo với UBND và Chủ tịch UBND cùng cấp, đồng thời báo cáo với bộ chủ quản và phòng báo cáo với sở; báo cáo trước Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp khi được yêu cầu.

2. Yêu cầu khách quan phải sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều văn bản quan trọng về việc sắp xếp các cơ quan trong bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị. Trong đó, Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 03/02/2018 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo chỉ đạo của Bộ Chính trị đã yêu cầu các địa phương: thực hiện thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng HĐND và Văn phòng UBND ở cấp tỉnh, thực hiện thí điểm hợp nhất Văn phòng cấp ủy với Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện ở những nơi có điều kiện theo quy định; sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và sáp nhập các thôn, tổ dân phố theo quy định (thực hiện từ năm 2018), thí điểm mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị, nông thôn, hải đảo ở những nơi có điều kiện (thực hiện từ năm 2021), thực hiện khoán kinh phí chi phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố (thực hiện từ năm 2019); tiếp tục thực hiện mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố; sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực và nhu cầu của thị trường, xã hội; thực hiện tinh giản biên chế theo lộ trình, giảm số lượng cấp phó của các cơ quan, tổ chức, đơn vị phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương; giảm tối đa các ban quản lý dự án (thực hiện từ năm 2018 và hoàn thành năm 2019).

Theo dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 24/2014/NĐ-CP có 17 sở tổ chức thống nhất với 3 nhóm: nhóm 1, các sở tổ chức thống nhất trên phạm vi cả nước (4 sở gồm Tư pháp, Tài nguyên - Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế); nhóm 2, các sở được quy định theo hướng giao thẩm quyền cho UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định giữ ổn định hoặc hợp nhất (Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Xây dựng, Thông tin và Truyền thông, Văn hoá - Thể thao và Du lịch, Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và Đào tạo); nhóm 3, các sở được quy định theo hướng giao thẩm quyền cho UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định giữ ổn định hoặc thí điểm hợp nhất theo Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 56/2017/QH14 (Ví dụ: Sở Nội vụ thí điểm hợp nhất với Ban Tổ chức Tỉnh ủy; Thanh tra tỉnh thí điểm hợp nhất với Ủy ban Kiểm tra; Văn phòng UBND cấp tỉnh thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Văn phòng HĐND cấp tỉnh).

Đối với 4 sở đặc thù, chuyên ngành không được tổ chức thống nhất giữa các địa phương gồm: Sở Quy hoạch - Kiến trúc (thuộc UBND thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) và 3 sở do Chính phủ quy định tiêu chí thành lập là Ban Dân tộc, Sở Ngoại vụ, Sở Du lịch, Bộ Nội vụ đề xuất trao quyền để cấp tỉnh có thể xem xét quyết định giữ ổn định hoặc sáp nhập. Lý giải về những sở đặc thù có thể thành lập và có thể không, là do những sở này tham mưu về những lĩnh vực mang tính chất đặc thù, có tỉnh cần, có tỉnh chưa hoặc không cần. Ví dụ như Ban Dân tộc hoặc Sở Ngoại vụ, với những nơi có biên giới, hay khu công nghiệp, khu chế xuất thì cần, còn những nơi không có thì không cần thành lập.

Dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được Bộ Nội vụ đưa ra với 3 phương án về khung số lượng sở, ngành. Trong đó, phương án thứ nhất quy định thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh không quá 20, các tỉnh còn lại từ 17 đến 19 sở, ngành. Theo phương án này, cả nước sẽ giảm tối thiểu 46 sở. Phương án thứ hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không quá 20, các tỉnh, thành còn lại không quá 17 đến 18 sở, ngành. Như vậy, cả nước sẽ giảm tối thiểu 88 sở, ngành. Còn phương án 3 là sắp xếp các sở, ngành không vượt quá số lượng hiện có.

Trong ba phương án trên, Bộ Nội vụ đề xuất lựa chọn phương án thứ nhất để đảm bảo thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy có lộ trình, tránh xáo trộn lớn. Trên cơ sở đó, số khung các sở, ngành được tính toán dựa trên việc sắp xếp lại 21 sở, ngành hiện có. Trong đó có sở: Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế được tổ chức thống nhất trên cả nước, 17 sở ngành còn lại giao cho địa phương quyết định hợp nhất, sáp nhập, sắp xếp lại tùy theo từng địa phương.

3. Thực tiễn triển khai chủ trương chính sách về sắp xếp các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân trong thời gian qua tại một số địa phương 

Qua thực tiễn triển khai các cơ quan có thẩm quyền cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc một cơ quan, tổ chức làm nhiều việc nhưng một việc chỉ giao cho một cơ quan, tổ chức chủ trì và thực hiện phân cấp, uỷ quyền mạnh mẽ hợp lý giữa Chính phủ với các bộ, ngành và giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương. Theo số liệu báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến ngày 30/6/2017, số lượng thành viên UBND cấp tỉnh có 1.526 người, gồm 63 chủ tịch, 228 phó chủ tịch và 1.235 Uỷ viên UBND; cấp huyện tổng số 11.668 người gồm 706 chủ tịch (thiếu 07 chủ tịch), 1.671 phó chủ tịch và 9.291 uỷ viên UBND(1). Thực tiễn triển khai thi hành chủ trương của Đảng và Nhà nước, các địa phương đều ban hành kế hoạch triển khai và có lộ trình sắp xếp tinh giản các đầu mối nhằm giảm bớt sự cồng kềnh, chồng chéo, nhiều đầu mối của bộ máy, giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của từng cơ quan chuyên môn. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai còn bộc lộ nhiều bất cập vì chưa có quy định chính thức về số lượng các  sở, phòng, ban, số lượng cấp phó, đơn vị nào sáp nhập với nhau cho nên đòi hỏi phải thận trọng thực hiện từng bước, đồng thời cần có sự phối hợp của các bộ, ngành. Tổ chức kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết tại các huyện, thành phố và một số đơn vị trên địa bàn, tìm hiểu những khó khăn của cơ sở để đề ra các giải pháp tháo gỡ. Bên cạnh đó, không ít cán bộ, công chức, viên chức tại những đơn vị sẽ được tổ chức, sắp xếp lại vẫn còn băn khoăn về bố trí công việc sau khi sáp nhập. Vì vậy, cần đẩy mạnh tuyên truyền cũng như nâng cao nhận thức, làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, công chức, viên chức, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.

Theo nghiên cứu, hướng đi của các địa phương khi triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, Ban Thường vụ tỉnh ủy, thành ủy tổ chức các phiên họp để thảo luận một cách dân chủ, kỹ lưỡng với quyết tâm xây dựng đề án, kế hoạch chất lượng để trình Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, thành phố đề ra những phương án tối ưu nhất.

Thực tiễn hiện nay, các địa phương đang triển khai hợp nhất, sắp xếp lại các cơ quan theo lộ trình, kế hoạch, xin ý kiến của cấp có thẩm quyền. Ví dụ: tỉnh Lào Cai hợp nhất Sở Giao thông vận tải với Sở Xây dựng thành Sở Giao thông vận tải - Xây dựng. Đây là tỉnh đi tiên phong trong việc hợp nhất, sáp nhập sở có nhiệm vụ, chức năng tương đồng. Sau khi hợp nhất, Sở Giao thông vận tải - Xây dựng tỉnh Lào Cai có 01 giám đốc và không quá 3 phó giám đốc. Đồng thời có 10 phòng chuyên môn và chỉ có 1 tổ chức, 6 đơn vị sự nghiệp thuộc sở. Như vậy, việc hợp nhất này đã tinh gọn bộ máy hơn nhiều so với việc tồn tại cả hai sở trước đây. Việc hình thành và phát triển các không gian đô thị hiện đại không thể tách rời giữa quy hoạch xây dựng đô thị với quy hoạch hạ tầng giao thông. Đặc biệt khi Chính phủ đang chỉ đạo đẩy mạnh việc triển khai các dự án theo các hình thức đầu tư công - tư (BOT, BT, PPP) luôn đòi hỏi có sự gắn kết giữa quy hoạch phát triển giao thông với đô thị. Việc hình thành một cơ quan quản lý thống nhất hai lĩnh vực này góp phần bảo đảm nâng cao tính hiệu quả, khắc phục những bất cập chồng chéo, thiếu đồng bộ trong quản lý hạ tầng đô thị. Đồng thời, việc sáp nhập các sở có chức năng nhiệm vụ tương đồng sẽ góp phần tinh gọn bộ máy theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII. Qua đó, giảm bớt đầu mối các cơ quan chuyên môn giúp việc cấp tỉnh, cấp huyện và số lượng cấp phó.

Thành phố Hà Nội, qua sắp xếp đã giảm 231 cấp trưởng, 116 cấp phó phòng và sắp tới sẽ tiếp tục giảm các cấp phó(3). Hà Nội chưa sáp nhập sở, ngành và cũng khó có thể sáp nhập Sở Xây dựng với Sở Giao thông vận tải như tỉnh Lào Cai. Bởi Hà Nội cũng giống như thành phố Hồ Chí Minh là 2 đô thị rất lớn, địa bàn rộng, nếu sáp nhập thì công việc của sở mới là rất nhiều, công việc khó đạt hiệu quả, do đó, thành phố Hà Nội cần có cơ chế đặc thù cho việc này(4). Tỉnh Bạc Liêu đang triển khai Đề án sáp nhập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh với Văn phòng HĐND tỉnh. Sở Nội vụ được giao chủ trì xây dựng Đề án sáp nhập Sở Thông tin và Truyền thông với Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, thành Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch; Đề án sáp nhập Sở Khoa học và Công nghệ với Sở Giáo dục và Đào tạo, thành Sở Giáo dục - Khoa học - Công nghệ; Đề án chuyển bộ phận tôn giáo thuộc Sở Nội vụ về Ban Dân tộc tỉnh, thành lập Ban Dân tộc - Tôn giáo, các đề án này cơ bản đã được Bộ Nội vụ đồng ý. Tỉnh Thái Bình sẽ thực hiện sáp nhập Sở Thông tin và Truyền thông với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; sáp nhập Ban Dân tộc vào Ban Tôn giáo thành Ban Dân tộc - Tôn giáo trực thuộc Sở Nội vụ, đảm bảo cơ quan chuyên môn cấp tỉnh còn 17 đơn vị; lộ trình tiếp theo là nghiên cứu để sáp nhập thêm một số sở. Tiến hành sắp xếp, thu gọn đầu mối các phòng, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc sở; thực hiện giải thể các Ban Quản lý dự án chuyên ngành cấp sở. Hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng HĐND và Văn phòng UBND tỉnh khi có chủ trương của Trung ương; tổ chức thực hiện mô hình Trung tâm hành chính công của tỉnh. Thực hiện chức danh Trưởng ban Tổ chức huyện ủy (và tương đương) kiêm Trưởng phòng Nội vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra kiêm Chánh thanh tra ở 50% địa phương năm 2018, hoàn tất trong toàn tỉnh vào năm 2020. Thí điểm hợp nhất Văn phòng cấp ủy với Văn phòng HĐND và UBND ở một số địa phương có đăng ký.

Bên cạnh đó, việc sáp nhập các phòng ở cấp huyện cũng được các địa phương triển khai theo kế hoạch. Tỉnh Thái Bình thực hiện sáp nhập 22 trung tâm (gồm 10 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 6 Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, 6 Trung tâm dạy nghề các huyện, thành phố) thành 9 Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, giảm 13 trung tâm và 28 biên chế; sáp nhập 6 Ban quản lý dự án các công trình xây dựng thuộc 4 sở (gồm Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Giao thông vận tải và Sở Y tế) thành 3 Ban quản lý dự án trực thuộc UBND tỉnh… Thực hiện sáp nhập bộ phận phục vụ chung cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở những nơi có chung trụ sở làm việc. Sáp nhập Trung tâm phát triển quỹ đất vào Ban quản lý dự án cấp huyện. Không tổ chức Phòng Y tế, Phòng Dân tộc mà giao các nhiệm vụ này cho Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện. Hợp nhất một số phòng ở cấp huyện phù hợp với mỗi địa phương, đảm bảo không quá 10 phòng. Tại tỉnh Bắc Kạn, khối hành chính nhà nước, bao gồm các phòng chuyên môn thuộc sở, chi cục thuộc sở, phòng trực thuộc UBND các huyện giảm 69 phòng; đơn vị sự nghiệp thuộc sở, ngành, UBND cấp huyện giảm 30 đơn vị, phòng… Từ việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy trên địa bàn, hiện nay tỉnh Bắc Kạn dôi ra gần 100 trưởng phòng, phó trưởng phòng. Các cơ quan, đơn vị lấy phiếu tín nhiệm đối với trưởng phòng, ai nhiều phiếu hơn thì làm quy trình bổ nhiệm, ai ít phiếu thì làm phó trưởng phòng; số phó trưởng phòng không đủ phiếu tín nhiệm thì bố trí làm công chức chuyên môn nhưng được hưởng phụ cấp chức vụ cho đến hết thời gian bổ nhiệm. 

Tỉnh Quảng Ninh triển khai thực hiện Đề án 25 từ năm 2014 về đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh giản tổ chức, biên chế. Nhiều giải pháp được thực hiện như sắp xếp lại hệ thống trường học, trạm y tế; tinh giản biên chế trong hệ thống chính trị… Kết quả sau gần bốn năm, tỉnh đã giảm 04 đơn vị sự nghiệp; 107 phòng, ban; 686 biên chế công chức, viên chức. Trong đó, hai giải pháp được quan tâm nhất là nhất thể hóa chức danh lãnh đạo, quản lý và sáp nhập các cơ quan đảng, chính quyền có chung chức năng, nhiệm vụ. Để chuẩn bị hợp nhất các cơ quan Đảng và chính quyền ở cấp huyện, Quảng Ninh đang hợp nhất một số chức danh như trưởng ban tổ chức kiêm trưởng phòng nội vụ, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra kiêm chánh thanh tra… Theo địa phương, khi hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra với thanh tra, quy trình xử lý cán bộ, công chức vi phạm kỷ luật nhanh gọn hơn. Đáng chú ý, việc phát hiện các dấu hiệu vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức kịp thời. Do vậy, có tác dụng tích cực trong ngăn chặn các biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên như vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực hay bổ nhiệm người thân, người nhà không đủ tiêu chuẩn...
Tại tỉnh Phú Thọ, quá trình sắp xếp đến nay đã giảm 74 đơn vị ở cấp tỉnh và cấp huyện, chưa có trường hợp nào khiếu kiện. Sở Nội vụ giảm 02 phòng, Sở Kế hoạch và Đầu tư giảm 03 phòng, Thanh tra tỉnh giảm 01 phòng. Ba trưởng phòng của Sở Kế hoạch và Đầu tư đều bố trí làm phó trưởng phòng, Sở phân công một đồng chí phó giám đốc phụ trách phòng mới. Ban Bảo vệ sức khỏe nội bộ khi sắp xếp có hơn 30 nhân viên được chuyển sang ngành y tế. Tới đây, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự kiến giảm 07 đầu mối. Các sở, ngành còn lại đều đang xây dựng đề án tinh gọn bộ máy và sẽ thực hiện ngay trong năm 2018. 

Qua tình hình một số địa phương thực hiện sắp xếp cơ quan chuyên môn thuộc UBND, mặc dù có những cách thức thực hiện khác nhau, do đặc thù của mỗi địa phương ảnh hưởng bởi các yếu tố kinh tế, xã hội, con người, sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, vướng mắc khó khăn không giống nhau, nhưng với kết quả đạt được đã đánh giá được chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước.

4. Kết quả và một số giải pháp sắp xếp cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân 

4.1 Kết quả đạt được 

Một là, các địa phương đều ban hành kế hoạch triển khai và có lộ trình sắp xếp, tinh giản các đầu mối nhằm giảm bớt sự cồng kềnh, chồng chéo, nhiều đầu mối của bộ máy, giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của từng cơ quan chuyên môn trong toàn hệ thống. 

Hai là, khắc phục tình trạng một việc nhiều người làm, dẫn đến chồng chéo, thì nay cơ quan tham mưu giúp việc sẽ căn cứ vào nội dung để giao nhiệm vụ cụ thể cho đầu mối. Ngược lại, có những việc phức tạp cần nhiều người tham gia như vận động giải phóng mặt bằng thì cơ quan tham mưu giúp việc sẽ huy động các cơ quan có trách nhiệm vào cuộc. Qua đây, có thể đánh giá chính xác kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng tổ chức, cá nhân. Từ đó, chọn được cán bộ tốt, loại bỏ được những người không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Như vậy, việc tinh giản, sắp xếp tổ chức, bộ máy ở địa phương không những nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy mà còn góp phần phát hiện, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Ba là, quan điểm chung trong chỉ đạo thực hiện là: việc sắp xếp tổ chức bộ máy phải đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng và pháp luật, đảm bảo tính thống nhất lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong sắp xếp bộ máy; lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn làm mục tiêu hàng đầu. Xác định phải đảm bảo tính tổng thể, đồng bộ, liên thông; vừa có tính kế thừa, ổn định, vừa đảm bảo tính đổi mới, phát triển; gắn đổi mới bộ máy với đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh giản biên chế; chú trọng về chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là trọng dụng người có năng lực thực sự. Khi sắp xếp tổ chức bộ máy đều đảm bảo nguyên tắc, một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính, nhất là nêu cao vai trò người đứng đầu.

Bốn là, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực hiệu quả. Tinh thần chung là thực hiện khẩn trương, kiên quyết, chắc chắn để đạt mục tiêu về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và các đơn vị sự nghiệp công lập tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Năm là, phân định rõ thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị sáp nhập, thí điểm sáp nhập, khắc phục chồng chéo, mâu thuẫn trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ.

4.2 Một số giải pháp 

Thứ nhất, vì chưa có quy định chính thức về số lượng các sở, phòng, ban; số lượng cấp phó; sở nào, phòng nào, ban nào sáp nhập với nhau hay cách thức thực hiện theo pháp luật, cho nên phải thận trọng thực hiện từng bước, nội dung nào đã rõ sẽ tiến hành làm trước, nội dung còn mới vừa làm vừa rút kinh nghiệm với những bước đi cụ thể hoặc thực hiện thí điểm từ đó rút kinh nghiệm để triển khai, nhân rộng, đồng thời cần có sự phối hợp của các bộ, ngành, Trung ương. Cần có sự thống nhất, chỉ đạo thông suốt từ Trung ương đến cơ sở.  

Thứ hai, quá trình tinh gọn bộ máy ở địa phương gặp nhiều vướng mắc đối với các đơn vị chuyên môn trong khi nhiều việc cần có sự chỉ đạo, hướng dẫn của các cơ quan Trung ương. Ví dụ như: sáp nhập các trạm khuyến nông, trạm bảo vệ thực vật, trạm thú y ở các huyện thành trung tâm dịch vụ nông nghiệp trực thuộc UBND cấp huyện chưa thực hiện được do còn chờ hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Nội vụ. Việc hợp nhất văn phòng cấp ủy cấp huyện với văn phòng HĐND, UBND huyện, hay việc thống nhất văn phòng cấp ủy phục vụ chung các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy cấp tỉnh cần có hướng dẫn cụ thể.

Thứ ba, quá trình sáp nhập, giảm đầu mối sẽ dẫn đến việc dôi dư cán bộ ở các vị trí lãnh đạo, công việc phù hợp cho các cán bộ, công chức, viên chức, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, gây xáo trộn trong nội bộ cơ quan, đơn vị nên các ngành, địa phương cần coi trọng sự công khai, minh bạch, khách quan, dân chủ khi tiến hành sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đồng thời, coi trọng công tác nắm bắt tư tưởng của cán bộ, thực hiện nghiêm túc quy trình bổ nhiệm; trong quá trình nhất thể hoá cần xây dựng cơ chế kiểm soát hiệu quả, thực chất để vừa phát huy được chủ trương đúng đắn là hợp nhất các chức danh, đồng thời kiểm soát hữu hiệu tránh lạm quyền.

Thứ tư, tinh giản tổ chức, biên chế theo quy trình từ dưới lên cũng có vướng mắc nảy sinh. Việc hợp nhất giảm đầu mối các cơ quan chuyên môn thuộc UBND nhưng ở Trung ương chưa thực hiện dẫn đến một số đầu mối ở địa phương vẫn phải chịu sự lãnh đạo của các đầu mối ở Trung ương. Vì vậy, tinh giản tổ chức cần phải được thực hiện đồng bộ, thống nhất từ Trung ương xuống địa phương và cả hệ thống chính trị. 

Thứ năm, sau khi tinh giản, có những cán bộ kiêm nhiệm hai đến ba chức danh nhưng chỉ được hưởng phụ cấp của một chức danh, trong khi ở cơ sở công việc nhiều, áp lực công việc lớn là chưa thỏa đáng, chưa tạo động lực cho cán bộ làm việc. 

Thứ sáu, hợp nhất nhiều các sở, phòng sẽ mở rộng các lĩnh vực nhưng không sâu, không chuyên môn hoá, chưa có chủ trương, cơ sở khoa học và thực tiễn để chỉ ra tinh giản đến mức nào là phù hợp và cơ sở pháp lý để thống nhất chung trong cả nước khi thực hiện. 

Từ thực tế của các tỉnh đang triển khai có thể thấy, để thực hiện tốt việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, các cấp ủy cần có quyết tâm chính trị, có giải pháp đúng, phù hợp điều kiện thực tiễn và kiên trì với giải pháp đó; đồng thời cần có sự vào cuộc, phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở. Có vậy mới thực hiện tốt một trong những giải pháp mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII đã đề ra là “kiên quyết thực hiện đúng mục tiêu, có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”./.

PGS.TS. Trần Thị Diệu Oanh

Khoa Nhà nước, pháp luật và Lý luận cơ sở - Học viện Hành chính Quốc gia 

-------------------------------------
Ghi chú:
(1),(2) Số liệu của Vụ Chính quyền địa phương tổng hợp từ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tính đến ngày 30/6/2017.
(3) Báo Tiền phong, ngày 18/7/2018.

Ý kiến của bạn