Chính sách xã hội đối với công nhân

Thứ 6, 20/07/2018 10:07 (GMT+7)

Tuy nhiên, chính sách xã hội đối với công nhân mới chủ yếu tập trung vào đối tượng công nhân thuộc khu vực kinh tế nhà nước, còn ở khu vực kinh tế dân doanh, công nhân ở đây chưa được hưởng nhiều chính sách trên lĩnh vực xã hội, trong khi nhu cầu của họ ngày càng lớn và cấp bách.

Ảnh minh họa

Kết quả khảo sát ở các địa phương và doanh nghiệp cho thấy, nhiều nơi chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa phúc lợi xã hội với bảo đảm ổn định xã hội, đặc biệt với việc bảo đảm phát triển về mặt xã hội cho công nhân. Tại các khu công nghiệp, còn thiếu rất nhiều các hình thức phục vụ cộng đồng về ăn, ở, đi lại, vui chơi giải trí công cộng. Do vậy, nếu Nhà nước và doanh nghiệp hợp lực xây dựng các nhà dưỡng lão, khu vui chơi giải trí cho người lao động ở các địa phương thì sẽ rất có lợi cả về vật chất và tinh thần cho xã hội, từ đó hạn chế tình trạng tiêu cực trong xã hội.

Để hệ thống bảo hiểm xã hội đến với công nhân ở khu vực kinh tế dân doanh, Nhà nước cần thể chế hóa, đa dạng hóa nguồn tài chính và xã hội hóa các hình thức quản lý phù hợp với mỗi dạng bảo hiểm xã hội cho công nhân. Ngoài ra, công tác cứu trợ xã hội cần phải hướng đúng vào từng đối tượng công nhân ngoài khu vực Nhà nước, cần thiết hình thành khung cứu trợ và có biện pháp cứu trợ xã hội cho phù hợp. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện chế độ phục vụ xã hội đáp ứng được phúc lợi xã hội cho công nhân.

Về nguyên tắc, phúc lợi xã hội đối với công nhân luôn biến đổi theo chiều hướng tăng lên cả về lượng và chất. Vì thế, phải luôn có nhận thức mới về chính sách xã hội đối với công nhân cho phù hợp với thực tế, từ đó có sự điều chỉnh, bổ sung, đổi mới việc xây dựng, phát triển mạng lưới bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và phục vụ xã hội cho công nhân.

Trong tình hình hiện nay, cần thiết phải tăng cường việc khai thác tiềm năng, thế mạnh của các doanh nghiệp, địa phương. Các doanh nghiệp và địa phương đều có tiềm năng, thế mạnh riêng trong việc bảo đảm xã hội nhằm mang lại phúc lợi xã hội cho công nhân thuộc tất cả các khu vực kinh tế. Thời gian qua, việc khai thác tiềm năng, thế mạnh này chưa được chú ý đúng mức. 

Nên yêu cầu đặt ra là cần có chính sách khai thác thế mạnh của các doanh nghiệp lớn, các địa phương để đẩy mạnh công tác tổ chức chỉ đạo của chính quyền các cấp, sự hoạt động năng động của các tổ chức xã hội tại doanh nghiệp, tại địa phương nhằm khai thác đúng và trúng tiềm năng, thế mạnh của các doanh nghiệp, các địa phương. Thông qua đó cũng góp phần giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách của địa phương và nâng cao trình độ bảo đảm xã hội tại địa phương.

Đại diện Unilever Việt Nam và Công đoàn các KCN, KCX TP Hồ Chí Minh ký kết thỏa thuận hợp tác 

Việt Nam có nhiều khu công nghiệp, thu hút gần 2 triệu lao động. Đây là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước. Trong số 2 triệu người này, có 80-90% là lao động nhập cư - nhất là các khu công nghiệp lớn.

Tại các khu công nghiệp hiện nay, có 5 vấn đề quan trọng: Thứ nhất là công tác tuyên truyền, giáo dục về pháp luật cho người lao động, trong đó có luật lao động, luật bảo hiểm lao động, luật công đoàn... 

Thứ hai, là vấn đề việc làm, nhà ở, nhà trẻ cho con công nhân lao động nhập cư. Thứ ba là vấn đề hộ khẩu, hộ tịch của người lao động, nhất là diện KT3 chưa được đảm bảo. Công nhân di cư từ quê nhà lên khu công nghiệp, nhưng không được nhập cư nên việc học hành của con cái (hồ sơ xin học thường yêu cầu hộ khẩu) rất khó khăn. Thứ tư là vấn đề trợ giúp xã hội sao cho gắn kết các bên như Nhà nước, chính quyền với người lao động. Thứ năm là vấn đề đời sống tinh thần của công nhân khu công nghiệp cùng việc đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh các khu công nghiệp.

Có 3 nhóm giải pháp cơ bản để bảo vệ người lao động nhập cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Trong đó, bản thân người lao động phải là người quyết định sinh mệnh của mình.

Thứ nhất, vị trí tổ chức công đoàn rất quan trọng. Tổ chức công đoàn là trụ cột, phải bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người lao động. Ví dụ trong việc tổ chức đối thoại giữa người lao động và giới chủ sử dụng lao động, công đoàn phải đứng ra chủ trì. Công đoàn phải bảo đảm mọi công nhân đều được ký hợp đồng lao động, thỏa ước lao động theo bộ luật lao động. Với những tranh chấp lao động tập thể thì tổ chức công đoàn đứng ra đại diện cho người lao động, hoặc tổ chức đối chất hay đình công. Nơi nào chưa có tổ chức công đoàn thì tập thể công đoàn cấp trên có trách nhiệm đứng ra tổ chức đình công khi người lao động có yêu cầu.

Thứ hai, trách nhiệm thuộc về chính quyền địa phương, trước hết là trong việc quản lý hộ tịch, hộ khẩu, sau đó là hỗ trợ người lao động trong khu công nghiệp bằng các chính sách xã hội, ví dụ như nhà ở, chợ búa, cơ sở hạ tầng...

Nhóm giải pháp thứ ba là công tác thanh tra và xử lý. Thanh tra chuyên ngành của Bộ LĐ,TB&XH phải thường xuyên vào cuộc, xử lý đúng chế tài những vụ việc vi phạm quyền lợi của người lao động.

Chủ trương của Đảng và Chính phủ là hướng tới xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định và tiến bộ giữa công nhân và doanh nghiệp. Thời gian qua sự quan tâm tới việc hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, máy móc, công nghệ mà chưa quan tâm đủ tới yếu tố con người, và không công bằng trong phân phối lợi nhuận cho người lao động. Các mô hình ki ốt thông tin, nhóm công nhân tại các khu nhà trọ, nhóm công nhân tự quản trong doanh nghiệp, tổ tư vấn pháp luật lưu động... là hết sức thiết thực, là cái mà người lao động cần, sát với thực tiễn. 

Các mô hình này cần được nhân rộng. Mô hình nào chưa được luật hóa thì xem xét để luật hóa, từ thực tiễn đưa vào luật, từ luật quay lại phục vụ cuộc sống./.

Bích Loan - Ngô Trọng

Ý kiến của bạn