* Email: vietnamhoinhaponline1@gmail.com

Văn hóa và hội nhập quốc tế

Trong ba thập kỷ gần đây, quá trình toàn cầu hóa (Globalization) đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Tất cả các dân tộc trên thế giới, không trừ một ai, đều bị cuốn vào vòng xoáy của nó. Khác với thế kỷ XV, XVI, khi toàn cầu hóa bắt đầu định hình cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân, nhiều nước, nhiều dân tộc từ chối nó như một con đường duy nhất để bảo vệ mình.

Giờ đây, quan điểm đó đã bị phá vỡ bởi vì ai đóng cửa sẽ bị cô lập với thế giới bên ngoài, bị bật ra ngoài lề của xu thế phát triển hiện nay. Và điều đó cũng có nghĩa là đi ngược lại với xu hướng vận động tất yếu của toàn xã hội loài người.

Mở cửa và hội nhập quốc tế là nguyên tắc sống còn để phát triển và tạo nên sự bình đẳng giữa các quốc gia. Những điều kiện do hội nhập quốc tế mang lại, mở ra nhiều cơ hội cho nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Ngày nay thương mại giữa các nước cũng như các tổ chức thương mại trên thế giới (WTO) có quyền lực đối với các chính phủ và các quốc gia, những công nghệ mới và dòng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Bộ mặt xã hội thay đổi, sự phát triển của đô thị, dân số, khoa học kỹ thuật, tin học, phương tiện truyền thông… tất cả những tiềm năng to lớn đó đã giúp cho việc xóa đói, giảm nghèo trong từng quốc gia, trong từng khu vực. Cơ hội đó thật to lớn, nhưng thách thức cũng vô cùng to lớn. Khi thế giới trở nên tùy thuộc vào nhau ngày một sâu sắc và toàn diện hơn, cùng chuyển động trong vòng xoáy chóng mặt của toàn cầu hóa thì hơn bao giờ hết, sự cạnh tranh, quá trình sàng lọc, người được, người mất, người chạy theo kịp, người bị văng ra cũng trở nên cực kỳ khốc liệt. Với những nước nghèo, những nước đang phát triển, đó là sự sàng lọc khắc nghiệt, cơ hội luôn đi cùng với rủi ro.

Ảnh minh họa

Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì những thách thức cho nền văn hóa ở những nước phát triển cũng vô cùng lớn lao. Trong khi cố gắng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, đốt cháy một số giai đoạn phát triển nhờ công nghiệp và công nghệ mới, họ phải chịu áp lực từ những nước lớn về kinh tế. Và cùng với những áp lực đó là thay đổi những giá trị trong đời sống văn hóa tinh thần. Sự khủng hoảng có nguồn gốc từ sự du nhập ồ ạt và khó kiểm soát được của những luồng văn hóa đến từ các quốc gia trong dòng hội nhập. Biên giới văn hóa cả nhân loại được xóa bởi những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin. Các dân tộc hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn và đặt biệt văn hóa trở thành tài sản quý báu chung của cả nhân loại. Trong một mức độ nhất định, các nước nhỏ, kém phát triển có thể nhờ đó mà hiện đại hóa nền văn hóa của dân tộc mình, đi kịp văn hóa thời đại. Chúng ta vẫn coi đó là những yếu tố tích cực cho một nền văn hóa. Các nền văn hóa tồn tại và phát triển được nhờ sự tiếp nhận giao lưu, tiếp nhận những yếu tố mới. Nhưng cũng không ai dám đảm bảo rằng khi tiếp nhận những cái mới, những cái hiện đại mà tất cả đều tốt, đều là cần thiết. Rõ ràng những cái không tốt trong văn hóa đã nhanh chóng du nhập, nó như một loại xâm lăng mới làm băng hoại đạo đức, làm phá vỡ những văn hóa truyền thống. Chúng ta cần hòa nhập quốc tế để phát triển văn minh hiện đại, nhưng không thể để sự du nhập ấy xóa bỏ nền văn hóa truyền thống, nhất là trong cơ chế thị trường, coi vật chất hơn tinh thần đang xảy ra hiện nay.

Sâu xa trong tiềm thức, ai cũng biết bản chất của toàn cầu hóa không hướng tới việc xóa nhòa văn hóa các dân tộc, làm mất đi bản sắc của mỗi một dân tộc, mà ngược lại nó còn giúp cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn trên cơ sở chấp nhận nhau, đồng đẳng và bình đẳng. Nhưng trong thực tế, dường như trái đất càng nhỏ bao nhiêu thì sự phân hóa trong nhân loại càng lớn bấy nhiêu. Sự phân hóa giữa nước giàu và nước nghèo, giữa người giàu và người nghèo càng ngày càng có khoảng cách lớn. Sự chênh lệch là một mối nguy hiểm lớn hiện nay của nhân loại. Tuy nhiên, cần thấy rằng: một dân tộc dù có lạc hậu đến đâu, mức sống thấp đến đâu, cũng có nền văn hóa truyền thống riêng của mình. Và rằng: dù nền văn hóa đó có thể tồn tại hàng mấy nghìn năm, mấy trăm năm nay nhưng sẽ lặng lẽ biến thành di tích trong một tương lai gần bởi vòng xoáy của toàn cầu hóa. Tôi thấy cần phải nhắc lại ở đây một điểm, trong cam kết của “Hội nghị liên Chính phủ và chính sách văn hóa vì sự phát triển” Stockholm 1998 đã nêu: cần phải bảo vệ các nền văn hóa bản địa và khu vực bị đe dọa bởi quá trình toàn cầu hóa, không được biến các nền văn hóa thành di tích và làm cho văn hóa bị tước đi sức sáng tạo, sự phát triển năng động của chính nó. Ở Việt Nam chúng tôi có câu: “hòa nhập nhưng không hòa tan”. Đúng vậy, nền văn hóa Việt Nam rất phong phú, từ văn hóa nghệ thuật, văn hóa cộng đồng, văn hóa gia đình, văn hóa làng mạc, văn hóa doanh nhân đến văn hóa học đường, văn hóa tín ngưỡng, văn hóa ẩm thực, trên tất cả đó là văn hóa du lịch.

Ngay cả khi những nước đang phát triển đã đạt được sự tăng trưởng về kinh tế, theo kịp chuyến tàu chung của nhân loại thì nguy cơ cái xấu của nền văn minh vật chất – “sự suy thoái về luân lý, khô cạn về tinh thần” đang làm người ta phải sợ hãi. Những hiện tượng tiêu cực đó phải chăng là cái gía phải trả cho sự tăng trưởng và phồn vinh về kinh tế mà quên đi giá trị và bảo tồn phát triển văn hóa dân tộc. Chính văn hóa mới là lĩnh vực quan trọng hàng đầu mà nhân loại phải luôn quan tâm bảo vệ. Trong điều kiện toàn cầu hóa, những rủi ro về kinh tế, những vấn nạn mang tính toàn cầu như lạc hậu, nghèo đói, thất nghiệp… nhân loại đều có thể khắc phục được, nhưng những rủi ro trong lĩnh vực văn hóa nếu xảy ra thì mãi mãi sẽ trở thành khiếm khuyết của nhân loại. Chính vì thế, chúng ta cần đặt lại một vấn đề: làm thế nào để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở mỗi quốc gia đang phát triển trước những thách thức của toàn cầu hóa? Ở một quốc gia đang phát triển, điều này được coi như là một yếu tố quyết định sự sàng lọc được mất. Bởi vì nếu giữ được bản sắc của nền văn hóa dân tộc, chính là giữ được bản lĩnh dân tộc để chủ động chấp nhận và hòa nhập quốc tế. Lại cần phải định hướng cho một nền văn hóa để có phương pháp hữu hiệu giữ gìn, phát triển những giá trị văn hóa của bản thân mỗi dân tộc.

Toàn cầu hóa sẽ bị coi là không lành mạnh, thiếu sức sống nếu dẫn đến hậu quả san bằng hoặc đồng hóa các nền văn hóa khác nhau. Điều này thực sự đang gây lo ngại đối với không ít những quốc gia đang phát triển. Có 5 nhóm vấn đề mà tác giả nghĩ rằng cần được phân tích làm rõ để có định hướng đúng cho việc giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc trong hội nhập:

Một là: Vai trò của văn hóa trong đời sống cộng đồng và trong thời đại toàn cầu hóa, những lợi ích và những mất mát của nền văn hóa dân tộc có thể nảy sinh trong môi trường toàn cầu hóa đối với quốc gia đang phát triển.

Hai là: Những mâu thuẫn, những rủi ro và những khả năng thích ứng, đồng hợp của văn hóa cộng đồng.

Ba là: Những điều kiện chủ quan và khách quan có sẵn cũng như cần được tạo ra để một quốc gia đang phát triển bước vào quá trình toàn cầu hóa được thuận lợi mà vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Bốn là: Những biện pháp, cách thức, những chính sách vĩ mô và vi mô, những kinh nghiệm thực tiễn có thể giúp một quốc gia đang phát triển giữ gìn, xây dựng, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc với tư cách là những nét đặc sắc của nền văn hóa dân tộc khi tham gia tiến trình toàn cầu hóa.

Năm là: Xác định mục tiêu nền văn hóa quốc gia khi toàn cần hóa để việc hội nhập hoàn toàn chủ động và phát triển bền vững.

*Nước Việt Nam chúng tôi đã xác định trong “Xây dựng, văn hóa phải lấy xây dựng phát triển con người có nhân cách, đạo đức, có lối sống tốt đẹp làm trọng tâm”. Và “Con người Việt Nam là sự kết tinh của nền văn hóa Việt Nam”. Mục tiêu chung về phát triển văn hóa được xác định: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học, văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”… “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. “… Chủ động đón nhận cơ hội phát triển , vượt qua các thách thức để giữ gìn hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc, hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa về văn hóa”.(1)

Để làm được điều này, trước nhất phải có cơ sở lý thuyết đáng tin cậy, mà những cuộc hội thảo như thế này là rất cần thiết. Khi có cơ sở khoa học thì sẽ có những quyết sách đúng, những lộ trình đúng để hội nhập và nhanh chóng đưa nền văn hóa các nước hội nhập và phát triển.

Nền văn hóa hai dân tộc Việt - Nga là nền văn hóa có truyền thống lâu đời, phong phú, đa dạng. Nước Nga hôm nay và Liên Xô trước kia đã có ảnh hưởng sâu sắc đến cách mạng, đến tri thức và con người Việt Nam. Hai nền văn hóa đã hợp tác để đưa tình hữu nghị bền chặt lâu dài. Du lịch là một ngành gắn chặt với văn hóa và nó là nhịp cầu cho sự hữu biết và tình hữu nghị giữa hai đất nước nhất là trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Du lịch là ngành công nghiệp sạch mang tính tổng hòa của các ngành kinh tế khác. Bởi khi một địa phương du lịch phát triển, hạ tầng giao thông, các ngành nông, lâm, thủy sản phát triển, không gian kiến trúc, kể cả đường phố và ẩm thực được phát triển và gắn kết với văn hóa truyền thống, văn hóa du lịch góp phần quan trọng trong việc nâng cao tâm thức và sự văn minh của con người. Phát triển du lịch, nâng cao văn hóa trong du lịch cũng đồng nghĩa với việc phát triển tình hữu nghị, đề cao giá trị tình thương của con người với con người trên toàn cầu. Phát triển văn hóa du lịch hiện đại chính là sự phát triển bền vững góp phần tôn tạo gìn giữ nền văn hóa mỗi quốc gia.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ hội nhập toàn cầu, mở cửa, hội nhập quốc tế, đoàn kết và hữu nghị là nguyên tắc sống còn để tạo nên những điều kiện tiên quyết của mỗi quốc gia trong thế kỷ 21. Có hội nhập là có thị trường, có hội nhập là có phát triển. Và nhân tố trọng yếu để sự hội nhập đó thành công là sự hiểu biết thân thiện giữa người với người, giữa các dân tộc trên toàn thế giới. Con người cần đoàn kết nhau để giữ cho đất nước hòa bình, ổn định và phát triển. Việt Nam chúng tôi là đất nước đã diễn ra cuộc chiến tranh dài nhất và khốc liệt nhất của lịch sử nhân loại, dân tộc chúng tôi đã chịu đựng hy sinh suốt 30 năm và bằng lòng yêu nước và tình đoàn kết quốc tế đã tạo nên chiến thắng. Vì thế nhân dân Việt Nam rất hiểu rõ giá trị của Hòa Bình và hữu nghị. Đó cũng chính là nhân tố để phát triển và giữ gìn văn hóa của mỗi dân tộc.

Hôm nay từ diễn đàn này chúng tôi bày tỏ với thế giới tình đoàn kết thân ái từ sự rung động thật sự từ mỗi trái tim, để cùng nhau đoàn kết gìn giữ cho thế giới hòa bình, cho sự bình đẳng và độc lập của mỗi quốc gia, để trái đất ngày càng xanh, càng sạch và càng đẹp, để con người thật sự được sống trong nền văn hóa phong phú của nhân loại và được đón nhận những niềm hạnh phúc vô biên, để mỗi quốc gia được tự chủ rộng mở hội nhập và phát triển bền vững.

-------------------

  1. Những dòng trong ngoặc kép là trích từ Nghị quyết về “Xây dựng phát triển văn hóa, con người Việt Nam…” của Hội nghị TW lần thứ 9 khóa 11 (lần 9) Ban Chấp hành TW Đảng CSVN.

...Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì những thách thức cho nền văn hóa ở những nước phát triển cũng vô cùng lớn lao. Trong khi cố gắng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, đốt cháy một số giai đoạn phát triển nhờ công nghiệp và công nghệ mới, họ phải chịu áp lực từ những nước lớn về kinh tế. Và cùng với những áp lực đó là thay đổi những giá trị trong đời sống văn hóa tinh thần...

GSTS. TRÌNH QUANG PHÚ

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Phương Đông

 

Ý kiến của bạn

   Mã xác nhận  

  •   
  •  

Tin khác