* Email: vietnamhoinhaponline1@gmail.com

Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật tố tụng hình sự

Suy đoán vô tội hay giả định vô tội, là một trong những nguyên tắc cơ bản, được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại. Ở Việt Nam, việc ghi nhận và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ tạo cho quá trình tố tụng ngày càng tiến bộ, dân chủ, phù hợp với cải cách tư pháp. Vì vậy việc tìm hiểu và nắm vững nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội là rất cần thiết.

Nguồn gốc của nguyên tắc suy đoán vô tội có từ thời La Mã cổ đại khi vào thế kỷ thứ 6, hoàng đế La Mã Justinian đã ban hành một bản tóm lược luật La Mã được gọi là “Digest of Justinian”, trong đó một quy định về nguyên tắc chung liên quan đến chứng minh mà nội dung của nó là: Trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo, bên khẳng định chứ không phải bên phủ định . Sau đó, trong các triều đại La Mã, nguyên tắc này được áp dụng trong quá trình xét xử hình sự và bắt đầu khẳng định nghiã vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội và một hệ quả tất yếu là bị cáo luôn được coi là vô tội. Tuy nhiên, suy đoán vô tội chỉ chính thức được xem như một nguyên tắc mang tính công cụ của pháp luật bởi luật gia người Pháp Jean Lemoine nhằm ủng hộ cho một cách suy luận mang tính pháp lý rằng hầu hết mọi người không phải là tội phạm. Và được quy định tại Điều 9 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp ngày 26/8/1789 trong thời gian cách mạng tư sản Pháp như sau: “Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội; nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt mức cần thiết cho việc bắt giữ đều bị luật pháp xử phạt nghiêm khắc”. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp được coi là mốc son trong lịch sử hình thành và phát triển nguyên tắc suy đoán vô tội. Nguyên tắc này đã được công nhận và quy định trong Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc là: “Một người bị buộc tội có hành vi phạm tội được coi là vô tội cho đến khi sự phạm tội của người đó được xác định một cách hợp pháp trong một vụ xét xử công khai, trong đó có những sự bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của người đó” và trong khoản 2 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật…”.

Ảnh minh họa

Ngày nay, nguyên tắc suy đoán vô tội được nhiều Nhà nước coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ đại của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người. Chính vì tầm quan trọng như vậy nên trong những năm qua, nguyên tắc suy đoán vô tội luôn được sự quan tâm, không chỉ được đề cập rất nhiều trong những hội nghị khoa học và các hội nghị về tư pháp mà còn trở thành một yêu cầu bức thiết trong hoạt động xây dựng pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn.

Nguyên tắc suy đoán vô tội đã được quy định trong pháp luật hầu hết các nước trên thế giới. Tuy nhiên, nội dung của nguyên tắc này được ghi nhận ở mức độ khác nhau tùy theo từng nước. Pháp luật tố tụng hình sự hầu hết các nước trên thế giới chỉ ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội với hai nội dung là người bị buộc tội được coi là không có tội cho tới khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và trách nhiệm chứng minh phạm tội thuộc về bên buộc tội. Bộ luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga năm 2001 được cho là quy định tương đối đầy đủ nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội trong một điều luật (Điều 14 - Suy đoán vô tội) cụ thể như sau:

“1. Bị can (người bị buộc tội) được coi là không có tội, chừng nào tội của họ không được chứng minh theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và không bị Tòa án tuyên phạt bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị tình nghi hoặc bị can (người bị buộc tội) không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình. Vấn đề chứng minh tội phạm và bác bỏ những chứng cứ nhằm bảo vệ cho người bị tình nghi hoặc bị can thuộc trách nhiệm của bên buộc tội.

3. Mọi nghi ngờ về tội phạm của bị can, nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì phải được giải thích có lợi cho bị can.

4. Bản án kết tội không được dựa trên những giả định”3.

Tại Canada, Điều 11.d của Hiến chương về quyền và tự do (đây là một bộ phận của Hiến pháp Canada) quy định: Bất kỳ người nào bị buộc tội phạm một tội đều có quyền suy đoán vô tội cho đến khi được một Tòa án độc lập và công bằng xét xử một cách công khai theo quy định của pháp luật. Canada là một nước có hệ thống thông luật, do vậy các quy định cụ thể về suy đoán vô tội thường được thể hiện ở nhiều án lệ khác nhau.

Ở Trung Quốc, Điều 12 BLTTHS được ban hành năm 1979 và được sửa đổi, bổ sung năm 1996, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-1997 quy định: Không ai bị coi là có tội, nếu không bị xét xử bởi một Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật; Điều 43 Bộ luật này cũng quy định: Thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên theo trình tự, thủ tục quy định trong luật, phải thu thập các loại chứng cứ khác nhau chứng minh sự có tội hay vô tội của nghi can, bị cáo và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Nghiêm cấm việc bức cung, dùng nhục hình và thu thập chứng cứ bằng các biện pháp như đe dọa, dụ dỗ, lừa gạt và các biện pháp bất hợp pháp khác. Trong pháp luật TTHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, mặc dù tên gọi của nguyên tắc suy đoán vô tội chưa được ghi nhận trong luật nhưng hai nội dung quan trọng nhất của nguyên tắc này đã được thừa nhận.

Ở nước ta, nguyên tắc suy đoán vô tội mặc dù chưa được công nhận một cách chính thức nhưng tư tưởng của nguyên tắc này đã được đề cập trong một số văn bản quy phạm pháp luật. Thông tư số 2252/HCTP ngày 29/10/1953 đã hướng dẫn: “Không nên có định kiến rằng hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối xử như người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để toà án có thái độ hoàn toàn khách quan”. Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của Toà án Nhân dân tối cáo đã đưa ra hướng dẫn có tính nguyên tắc trong hoạt động xét xử của toà án như sau: “Việc xét hỏi tại phiên toà nhằm trực tiếp và công khai thẩm tra lại các chứng cứ của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử phải xét hỏi một cách đầy đủ, khách quan, cần tránh tư tưởng quá tin vào hồ sơ mà coi nhẹ tác dụng của việc xét hỏi tại phiên toà, hoặc cho rằng xét hỏi chỉ nhằm buộc tội bị can phải nhận những lời mà họ đã khai ở cơ quan điều tra”.

Suy đoán vô tội trong lịch sử pháp luật của nước ta lần đầu tiên được ghi nhận là nguyên tắc tố tụng hình sự và quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 như sau: “Không ai có thể bị coi là có tội và chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 10). Và nguyên tắc này đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận và thể hiện như sau: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 72); Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về cơ bản vẫn giữ nguyên nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và chỉ bỏ cụm từ “có thể”, cụ thể như sau: “Không ai bị coi là có tội và chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9). Cách diễn đạt như vậy chưa lột tả hết bản chất của suy đoán vô tội khi chưa chỉ ra được chủ thể của quyền và hướng suy đoán hay nói cách khác là chưa thể hiện rõ địa chỉ của nguyên tắc này. Ai là người được suy đoán vô tội và ai là người có trách nhiệm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội. Trong điều luật sử dụng cụm từ “Không ai” thường được hiểu là “mọi người”, trong khi đó địa chỉ của quyền này chỉ áp dụng đối với “người bị buộc tội”. Sự suy đoán ở đây là “suy đoán vô tội” chứ không phải là “suy đoán có tội”, cho nên cụm từ “bị coi là có tội” chưa thực sự chính xác và dễ gây hiểu lầm. Ngoài ra, cụm từ “chịu hình phạt” không liên quan đến nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội.

Hiến pháp năm 2013 (Điều 31) đã thể hiện rõ hơn về chủ thể của nguyên tắc suy đoán vô tội là người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Quy định “cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định” bảo đảm cho việc quyền suy đoán vô tội được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Việc đưa một nguyên tắc tố tụng hình sự thành nguyên tắc quan trọng của Hiến pháp là một trong những bước đi quan trọng của lịch sử lập hiến nước ta trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, khẳng định những giá trị nhân loại mà nhân dân hết sức tôn trọng.

Cụ thể hóa quan điểm tiến bộ này, Điều 13 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Nguyên tắc suy đoán vô tội đã được quy định cụ thể hóa trong bộ luật tố tụng hình sự 2015. Thể hiện những nội dung chủ yếu sau:

Chủ thể của quyền được suy đoán vô tội là người bị buộc tội, còn chủ thể  có nghĩa vụ bảo đảm quyền này là cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội đó được chứng minh và việc chứng minh phải tuân theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định.

Nguyên tắc này khẳng định chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền phán quyết, xác định một người có tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Chừng nào chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì người bị buộc tội vẫn là người vô tội. Các cơ quan tố tụng một mặt phải đối xử với họ như người không có tội, mặt khác, phải tạo mọi điều kiện để người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa và các quyền tố tụng khác.

Việc chứng minh hành vi phạm tội của người bị buộc tội là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục luật định. Trong trường hợp không đủ và không thể kết tội thì phải kết luận người bị buộc tội không có tội hay nói một cách khác nếu không chứng minh được tội của người buộc tội có nghĩa là chứng minh sự vô tội của họ.

Suy đoán vô tội là một nguyên tắc tiến bộ. Nguyên tắc này bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự là khi cơ quan tố tụng không chứng minh được hành vi phạm tội thì phải suy đoán theo hướng ngược lại. Ngoài ra, nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm. Vì vậy, việc bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật TTHS Việt Nam cần được coi là một trong những nguyên tắc trụ cột và là một nhu cầu cấp thiết nhằm thực hiện đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                            ThS. LÊ TIẾN - Học viện An ninh Nhân dân

 CN. TRƯƠNG XUÂN HÒA - Trường trung cấp cảnh sát vũ trang


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ luật tố tụng hình sự, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Ý kiến của bạn

   Mã xác nhận  

  •   
  •  

Tin khác