* Email: vietnamhoinhaponline1@gmail.com

Vấn đề dẫn độ tội phạm của Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế

Dẫn độ tội phạm là một hoạt động phổ biến trong hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm của các quốc gia trên thế giới. Có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về dẫn độ tội phạm nhưng nhìn chung dẫn độ được hiểu là việc chuyển một người từ quốc gia này sang một quốc gia khác để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đã có hiệu lực.

Trong Luật quốc tế, dẫn độ được hiểu là việc một quốc gia chuyển, trao  người phạm tội hoặc người bị kết án (quốc gia nơi những người đó có mặt) cho một quốc gia khác (thường là quốc gia nơi tội phạm gây ra hoặc là quốc gia đã kết án người đó).

Khoản 1 điều 32 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 quy định: “Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó”.

Luật tương trợ tư pháp năm 2007 đã quy định: VKSND tối cao là cơ quan đầu mối có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp của nước ngoài, kiểm tra tính hợp lệ và chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thực hiện, đồng thời đôn đốc việc thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự.

Theo quy định tại Điều 65 Luật tương trợ tư pháp, Bộ Công an có trách nhiệm thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp theo thẩm quyền, trong đó có hoạt động dẫn độ. Điều 70 Luật tương trợ tư pháp quy định: “Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiếp nhận và tiến hành các hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù”. Do đó, hoạt động dẫn độ chủ yếu do các Cơ quan điều tra của Bộ Công an tiến hành, thực hiện.

Thực tiễn hoạt động dẫn độ của Việt Nam với vai trò là nước yêu cầu cũng như nước được yêu cầu diễn ra tương đối nhiều trong thời gian vừa qua, dù còn vấp phải nhiều khó khăn song chúng ta cũng đã đạt được những kết quả nhất định. Trong quá trình hội nhập quốc tế, tội phạm và các vi phạm pháp luật khác ngày càng có xu hướng “quốc tế hóa”, số lượng yêu cầu dẫn độ giữa các quốc gia tăng cao, tính chất các loại tội phạm ngày càng phức tạp, gây ra nhiều khó khăn, đòi hỏi các quốc gia phải bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy định liên quan trong hoạt động dẫn độ.

Trong thời gian qua, dựa trên các điều ước quốc tế song phương và đa phương, chúng ta đã hợp tác với lực lượng cảnh sát các nước yêu cầu dẫn độ và tiếp nhận dẫn độ nhiều đối tượng, có thể kể đến như Cộng hòa Liên bang Đức. Dù không kế thừa Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Cộng hòa Dân chủ Đức song Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Cộng hòa Liên bang Đức đã ký Nghị định thư về hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm nên đã đạt được một số kết quả nhất định. Lực lượng Công an Việt Nam đã phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức tiếp nhận 30 đợt với 106 đối tượng phạm tội ở Đức về Việt Nam, đảm bảo đúng quy định của pháp luật (1).

Bên cạnh đó, chúng ta còn tiếp nhận dẫn độ và yêu cầu dẫn độ với các quốc gia chưa có hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam như Mỹ, Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kong theo nguyên tắc “có đi có lại”, điển hình như các vụ Nguyễn Thành Thắng, đối tượng truy nã của Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI) về tội giết người, trao trả cho Hoa Kỳ tháng 1/1998; Feng Hui Ching, phạm tội bắt cóc một phụ nữ Đài Loan và trốn sang Việt Nam, bắt và dẫn giải cho Đài Loan năm 1997...

Từ năm 2011 cho đến nay, lực lượng Công an Việt Nam đã tiến hành yêu cầu dẫn độ và tiếp nhận dẫn độ các đối tượng phạm tội về Việt Nam hoặc sang các nước có yêu cầu. Có thể kể đến như vụ dẫn độ về Nga năm 2011 hai đối tượng Polyakov và Kosenok phạm tội Thành lập các băng nhóm vũ trang nhằm tấn công người dân và các cơ quan, tổ chức (Điều 209 Bộ luật hình sự Liên bang Nga); tàng trữ bất hợp pháp vũ khí được thực hiện bởi một nhóm người theo âm mưu đã bàn tính trước bởi một nhóm có tổ chức (Điều 222 Bộ luật hình sự Liên bang Nga), Tống tiền (Điều 163 Bộ luật hình sự Liên bang Nga) hoặc vụ Phạm Thế Vinh và Nguyễn Hà Lan bị cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố về tội Cưỡng đoạt tài sản theo điều 135 Bộ luật hình sự Việt Nam và đã được dẫn độ về Việt Nam.

Bên cạnh những vụ yêu cầu dẫn độ và thực hiện dẫn độ giữa Việt Nam và các quốc gia vẫn tồn tại những vụ việc chưa được xem xét hoặc các quốc gia từ chối thực hiện dẫn độ người phạm tội về Việt Nam.Việc từ chối dẫn độ do có sự quy định khác nhau về điều kiện, quá trình thực hiện hoặc do các bên chưa ký kết với nhau các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề dẫn độ đã cản trở hoạt động thực thi pháp luật, tiến hành các biện pháp trấn áp đối với người phạm tội của Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới. Điều này đặt ra nhiệm vụ đối với Việt Nam nói riêng và các quốc gia trên thế giới nói chung cần có những giải pháp cụ thể để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động dẫn độ.

II. Thực tiễn công tác dẫn độ tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, có thể rút ra một số thuận lợi và những mặt còn tồn tại như sau:

* Về thuận lợi của hoạt động dẫn độ tại Việt Nam:

- Một là, hoạt động dẫn độ được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước ta.

Trong thời gian vừa qua, hoạt động của các loại hình tội phạm ngày càng tinh vi, hoạt động sâu rộng hơn trên mọi lĩnh vực và không chỉ tồn tại trong phạm vi lãnh thổ môt quốc gia. Do đó, hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm là hoạt động cần thiết để góp phần ngăn chặn các hoạt động tội phạm. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm nói chung và hoạt động dẫn độ nói riêng, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đầu tư nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động ngày càng phát triển sâu rộng, ngày càng nâng cao được chất lượng. Chúng ta đã phối hơp một cách có hiệu quả với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có chung đường biên giới để tiến hành hoạt động dẫn độ hợp pháp, nhanh chóng và phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế.

- Hai là, cơ sở pháp lý cho hoạt động dẫn độ ngày càng được hoàn thiện, nâng cao phù hợp tình hình hiện tại.

Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp có quy định về dẫn độ, các hiệp định chuyên biệt về dẫn độ với các quốc gia trên thế giới như Hungari, Đại Hàn Dân Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha... Việt Nam đã tham gia là thành viên một số Công ước quốc tế và trong khu vực như Công ước chống khủng bố, Công ước về phòng, chống và kiểm soát ma túy, Công ước về chống tham nhũng; Công ước ASEAN về chống khủng bố năm 2007....

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật quốc gia của Việt Nam ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời với tình hình thực tiễn. Tại Chương 37, phần 8 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định riêng về Dẫn độ và chuyển giao tài liệu, vật chứng của vụ án. Đến năm 2007 Quốc hội đã ban hành Luật Tương trợ tư pháp có quy định về công tác dẫn độ trong hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm. Và trong chương 36, phần 8 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đã bổ sung thêm một số quy định về dẫn độ cũng như hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm. Những quy định trên về dẫn độ có ý nghĩa hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia điều chỉnh các hoạt động hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm, bao gồm cả hoạt động dẫn độ.

- Ba là, tham gia các tổ chức quốc tế chuyên biệt trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm

Việt Nam đã tham gia các tổ chức quốc tế chuyên biệt như tổ chức Cảnh sát toàn cầu Interpol, Tổ chức Aseanpol. Hoạt động phối hợp của lực lượng công an và các tổ chức này thông qua các văn phòng Interpol và Văn phòng Aseanpol được đặt tại Việt Nam. Hoạt động của các văn phòng này ngày càng hiệu quả và chứng minh được vai trò của mình trong hoạt động hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm.

* Về tồn tại, hạn chế của hoạt động dẫn độ tại Việt Nam

Thứ nhất, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam cũng như của các quốc gia còn chưa thống nhất, nhiều quy định trong các điều luật còn “vênh nhau” dẫn đến việc thực thi các yêu cầu của nước ngoài và yêu cầu nước ngoài thực hiện các hoạt động về tương trợ tư pháp hình sự nói chung và các hoạt động dẫn độ nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, thời gian thực hiện và để giải quyết được vấn đề bị kéo dài rất lâu, ảnh hưởng đến công tác giải quyết các vụ án hình sự và hoạt động phòng, chống tội phạm.

Hệ thống các văn bản hướng dẫn các bộ luật, luật về tương trợ tư pháp  của Việt Nam còn chưa đầy đủ, cụ thể dẫn đến việc thực hiện của các cơ quan chức năng còn gặp lúng túng. Mặc dù, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đến việc đẩy mạnh xây dựng, ký kết các văn bản hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; nhiều quốc gia chưa ký hiệp định tượng trợ tư pháp hình sự với nước ta, dẫn đến tình trạng bị động, kéo dài, thậm chí không giải quyết được việc dẫn độ.

Thứ hai, trong nhiều năm qua, việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo các hiệp định tương trợ tư pháp mà nhà nước ta ký kết chưa đi vào quy chuẩn. Việc thực hiện các hiệp định song phương được ký kết ở cấp Chính phủ và BCA với các nước hiệu quả chưa cao; nhiều khi quan hệ hợp tác chỉ đóng khung trên nguyên tắc “có đi, có lại” mà không tuân theo các quy định của văn bản đã ký kết. Bên cạnh đó, nhiều văn bản hợp tác đã ký kết từ lâu nhưng không được tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm; cũng chậm được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nên vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc. Một số văn bản đã ký do chưa được tính toán kỹ nên nội dung, hình thức, lĩnh vực hợp tác vừa rộng, vừa không phù hợp với thực tiễn của Việt Nam.

Thứ ba, về cơ chế phối hợp giữa các đơn vị chức năng của Việt Nam với các đơn vị chức năng của nước ngoài còn nhiều vướng mắc, phải trải qua nhiều thủ tục, nhiều tầng nấc trung gian phức tạp, mất rất nhiều thời gian mới có thể đến được các cơ quan thực thi trực tiếp. Đặc biệt là pháp luật của các nước châu Âu, Mỹ quy định về trình tự thủ tục để thực hiện một yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự rất phức tạp; hoạt động này được thực hiện thông qua nhiều khâu với sự phối hợp của nhiều bộ, ngành.Điều này gây ra nhiều khó khăn đối với các yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự cũng như hoạt động dẫn độ nói riêng.Dẫn đến một số trường hợp dẫn độ nhưng thực chất là đẩy trả, áp giải. Trong thực tiễn, đẩy trả được coi như là một biện pháp áp dụng chủ yếu giữa các nước chưa có luật trong nước quy định về dẫn độ; chủ yếu dựa trên quan hệ thân thiết giữa các quốc gia. Thủ tục đẩy trả đơn giản hơn thủ tục dẫn độ nên một thực tế là trong nhiều trường hợp các bên liên quan đã lợi dụng điểm này, làm sai lệch đi bản chất của hoạt động dẫn độ.

- Thứ tư, hạn chế về trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ thực hiện

Đội ngũ cán bộ làm công tác liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp nói chung và hoạt động dẫn độ nói riêng còn mỏng và yếu nhiều mặt đặc biệt là về ngoại ngữ và kiến thức pháp luật quốc tế.

Những hạn chế, vướng mắc trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng tập trung chủ yếu là những nguyên nhân sau đây:

- Một là, Cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động dẫn độ chưa đầy đủ, thiếu tính đồng bộ. Nhìn chung, còn thiếu các điều ước quốc tế song phương điều chỉnh quan hệ tương trợ tư pháp nói chung cũng như hoạt động dẫn độ nói riêng.

Luật tương trợ tư pháp của Việt Nam được ban hành năm 2007, có hiệu lực từ ngày 01/7/2008 nhưng chưa được hướng dẫn đầy đủ, dẫn đến việc triển khai áp dụng trên thực tế còn bất cập.

- Hai là, hoạt động ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế liên quan đến lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự chưa đáp ứng so với nhu cầu thực tiễn. Nhà nước ta chưa ký được nhiều các hiệp định song phương về tương trợ tư pháp hình sự với nước ngoài. Nhất là các nước mà tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài liên quan đến Việt Nam diễn biến phức tạp như Đức, Mỹ, Ca-na-đa, Ôx-trây-lia… Trong khi đó các hiệp định đã ký trước đây còn mang tính chất quy định chung chung, chưa được hướng dẫn giải thích nên rất khó vận dụng. Đa số các hiệp định đã ký kết chủ yếu là với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ) hoặc kế thừa lại của các nước xã hội chủ nghĩa (cũ).Hiện nay, khi ở những nước này đã có những thay đổi về mặt chính trị, xã hội và pháp luật thì việc triển khai thực hiện các hiệp định không thực sự mang lại kết quả như mong muốn. Do vậy, chưa tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ hỗ trợ tích cực cho hoạt động dẫn độ.

- Ba là, quan hệ phối hợp trong quá trình giải quyết và thực hiện các yêu cầu dẫn độ đôi khi còn mang tính hình thức, chưa phát huy đầy đủ tinh thần và trách nhiệm, giải quyết có trường hợp còn tùy tiện chưa chú ý đến nguyên tắc “có đi có lại” và thông lệ quốc tế trong quan hệ phối hợp.

- Bốn là, các cơ quan có trách nhiệm trong việc thực hiện dẫn độ chưa xây dựng được một mô hình tổ chức và cơ chế phù hợp để thực thi hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự trên phạm vi quốc gia. Thể hiện ở việc xác định rõ ràng về chủ thể phải chịu trách nhiệm chính, chủ thể có trách nhiệm tham gia và cơ chế phối hợp giữa các chủ thể thực hiện hoạt động dẫn độ. Chưa có cơ chế phù hợp trong việc chia sẻ và phối hợp xử lý thông tin “mang tính chất bắt buộc”, nhất là giữa Cơ quan điều tra và các đơn vị khác có thẩm quyền.

- Năm là, năng lực trình độ chuyên môn của điều tra viên, cán bộ trực tiếp thực thi nhiệm vụ tương trợ tư pháp về hình sự nói chung cũng như thực hiện hoạt động dẫn độ nói riêng của Cơ quan điều tra nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt là trình độ ngoại ngữ, kiến thức hiểu biết về pháp luật quốc tế, về nội dung các hiệp định mà Nhà nước ta là thành viên cũng như kinh nghiệm thực tiễn. Điều này đã ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả công tác, cũng như quá trình hợp tác quốc tế về việc trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tham gia các diễn đàn, các hội nghị, hội thảo quốc tế, giữa lực lượng Cảnh sát các nước về tương trợ tư pháp về hình sự.

III. Hiện nay, trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm là yêu cầu tất yếu. Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp cần phải đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tương trợ tư pháp về hình sự nói chung và dẫn độ nói riêng. Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi, khó khăn, hạn chế về hoạt động dẫn độ trên đây, có thể đề ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động dẫn độ như sau:

- Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý có liên quan đến vấn đề dẫn độ.

Như đã phân tích ở trên, chúng ta đã tham gia các điều ước quốc tế song phương và đa phương có quy định về dẫn độ hoặc là các điều ước quốc tế chuyên biệt về dẫn độ. Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống pháp luật quốc gia quy định về dẫn độ chưa rõ ràng, cụ thể, thiếu đồng bộ dẫn đến sự chồng chéo về chức năng, thẩm quyền của các cơ quan thực thi. Do đó, trước mắt, các cơ quan lập pháp cần tập trung xây dựng hệ thống các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành các quy định về dẫn độ. Quy định trình tự, thủ tục thực hiện; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện hoạt động dẫn độ.

- Thứ hai, tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế song phương và đa phương một cách có hiệu quả, nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế trong vấn đề dẫn độ giữa lực lượng công an Việt Nam và lực lượng công an các nước trên thế giới.

Thực tiễn hoạt động tương trợ tư pháp nói chung và hoạt động dẫn độ nói riêng cho thấy, việc tham gia ký kết các điều ước quốc tế mới chỉ là bước đầu, tạo nền tảng cho các hoạt động này. Còn việc tổ chức thực hiện sao cho hiệu quả lại đòi hỏi mỗi quốc gia có sự tổ chức phù hợp. Để thực hiện các điều ước quốc tế hiệu quả cần qua nhiều giai đoạn, từ tuyên truyền đến phân công, tổ chức các cơ quan có thẩm quyền tiến hành. Điều này đòi hỏi cần có sự phân công rõ ràng, cụ thể công việc cho các cơ quan có thẩm quyền. Trên thực tế, hiện nay Việt Nam chưa có quy định rõ ràng thẩm quyền của các cơ quan trong việc áp dụng và thực hiện điều ước quốc tế song phương và đa phương.

- Thứ ba, hoàn thiện cơ chế thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự

Hoàn thiện cơ chế, xây dựng quy trình phối hợp liên ngành, đặc biệt là phối hợp giữa các cơ quan đầu mối, trong tất cả các khâu công tác tương trợ tư pháp về hình sự để trao đổi thông tin nhanh chóng và giải quyết kịp thời các yêu cầu tương trợ phức tạp cũng như thực hiện việc dẫn độ cần có sự thống nhất của liên ngành, đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật và đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

- Thứ tư, nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn của lực lượng thực hiện hoạt động dẫn độ nhằm tiến hành một cách có hiệu quả

Xây dựng kế hoạch đào tạo, tổ chức các khóa đào tạo, phổ biến kiến thức về quy trình thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm nói chung cũng như quy trình dẫn độ cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Nâng cao trình độ nghiệp vụ, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ nhằm thực hiện có hiệu quả, nhanh chóng.

Tăng cường công tác hợp tác quốc tế trong đào tạo, huấn luyện lực lượng công an thông qua các chương trình liên kết với các cơ sở đào tạo của nước ngoài nhằm tiếp xúc và học tập các kinh nghiệm của lực lượng cảnh sát các nước trong việc phối hợp trong công tác hợp tác quốc tế chống tội phạm nói chung cũng như hoạt động dẫn độ nói riệng.

ThS.Lê Tiến - ThS. Phạm Thị Hồng Nghĩa

Học viện An ninh nhân dân


                                       

(1) PGS.TS. Nguyễn Ngọc Anh, TS Bùi Anh Dũng - Hợp tác quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam, NXB Tư pháp, 2007                                

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Nguyễn Ngọc Anh (1996), Dẫn độ tội phạm trong tư pháp quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Vụ Pháp chế, Bộ Công an, Hà Nội.; 2. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật tương trợ tư pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.; 3.  Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2001), Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các nước, Hà Nội.; 4. Nguyễn Xuân Yêm (2001), Dẫn độ tội phạm, tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao phạm nhân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

Ý kiến của bạn

   Mã xác nhận  

  •   
  •  

Tin khác