x

Nhà khoa học với công bố quốc tế

Thứ 4, 08/08/2018 10:08 (GMT+7)

VNHN - Công bố quốc tế các công trình khoa học được coi là cơ sở để đánh giá năng lực khoa học của một nhà khoa học, một trung tâm nghiên cứu hay một trường đại học (ĐH). Nhưng điều này lại không dễ dàng với các nhà khoa học Việt Nam.

Loay hoay hội nhập

Trong thời gian gần đây, việc thúc đẩy công bố quốc tế trên các tạp chí khoa học có chỉ số ảnh hưởng cao (ISI/Scopus) và xuất bản tại các nhà xuất bản (NXB) uy tín đã được quan tâm. Số bài báo khoa học công bố trên những tập san khoa học, và số lần trích dẫn những bài báo được công bố theo ISI hay Scopus được xem là đánh giá có căn cứ và đáng tin cậy, không chỉ ở quốc gia mà còn phạm vi quốc tế. Nhưng nhiều nhà khoa học Việt Nam chỉ quen “đá sân nhà”. Ngay như trường Đại học KHXH&NV thuộc ĐHQG Hà Nội, từ 2010 đến 2016, cả trường có 4.926 bài nghiên cứu được công bố. Trong đó, số lượng công bố trên các tạp chí ISI, Scopus đạt được chỉ là 30 bài, 177 bài viết đăng trên tạp chí/chương sách nước ngoài. Còn lại phần lớn là đăng ở trong nước.

Theo PGS, TS Phạm Quang Minh - Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), sử dụng tiếng Anh trong những bài báo khoa học vẫn là một thử thách lớn với rất nhiều nhà khoa học Việt Nam. Chưa kể các rào cản khi tiếp cận thông tin, phương pháp nghiên cứu, nhận thức, xác định quy chuẩn và thông lệ quốc tế…, đặc biệt với những lĩnh vực đặc thù trong khoa học xã hội. Vì sự khác biệt này, có ý kiến nhận định: Trong khoa học, các nhà khoa học Việt Nam đang đóng góp một tiếng nói lạ. Không hội nhập quốc tế.

Khó quá nên đánh đồng?

Dư luận đã đặt ra không ít câu hỏi, rằng mỗi năm ở nước ta công bố tới 500 - 600 bài báo quốc tế, báo cáo trước Quốc hội những con số khổng lồ tiền ngân sách đầu tư nhưng có mấy ai đọc, ai biết ứng dụng ở đâu? Có những cơ sở đào tạo đánh đồng “công bố quốc tế”, vô hình trung gom cả những công bố trên những tạp chí của nước ngoài với tạp chí được ISI, Scopus chọn lựa, báo cáo lên tới con số vài trăm bài viết/năm.

Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ ra: “Phần lớn các công bố quốc tế xuất xứ từ Việt Nam đều là các bài báo, công trình đứng tên chung với các tác giả nước ngoài; chỉ số trích dẫn quốc tế và chỉ số tác động khoa học còn chưa đạt mức trung bình thế giới”. Vậy mà mục tiêu mà Bộ này đưa ra, trong thời gian tới, số lượng công bố quốc tế từ các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước tăng trung bình 15-20%/năm. Việc chạy đua số lượng này có đi kèm chất lượng hay không?

Với nhiều nhà khoa học trẻ, ngay cả quy định của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted) - được coi là “bà đỡ” cho các nhà khoa học trong việc hỗ trợ kinh phí cho hoạt động nghiên cứu cũng còn nhiều quy định bó buộc. Chẳng hạn, những điều kiện để xem xét hỗ trợ Công bố công trình khoa học - công nghệ trong nước và quốc tế bao gồm: Là kết quả của nghiên cứu đã được thực hiện tại Việt Nam, đã được công bố trên tạp chí ISI uy tín… thì khá khó thực hiện, nhất là với nhà khoa học trẻ vì họ không có kinh phí thực hiện ban đầu, không biết có đủ sức chạy bền để nuôi đề tài đến khi hoàn thành hay không.

Nhiều nhà khoa học đã gợi mở ý tưởng tháo gỡ. Trong đó, phần lớn là giải pháp về cơ chế, chính sách như tạm ứng cho người thực hiện để họ có kinh phí ban đầu, nếu không hoàn thành sẽ phải hoàn trả lại cho Nafosted; xây dựng quỹ đầu tư trọng điểm và quảng bá kết quả nghiên cứu; xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh và điều chỉnh các trung tâm nghiên cứu; hợp tác với các NXB, các học giả nước ngoài để thúc đẩy công bố quốc tế.

Nguyễn Lê

Ý kiến của bạn

Tạp chí thường kì